Bài đăng phổ biến

Thứ Tư, 15 tháng 1, 2014

tình báo Do Thái Mossad

Sự lợi hại của tình báo
Do Thái Mossad



image

1. Mở bài

Hiện nay, không một cơ quan mật vụ nào trên thế giới bí ẩn, gây sợ hãi và được khâm phục hơn Mossad, cơ quan tình báo hải ngoại của Do Thái, với những cấu trúc độc nhất vô nhị, cũng là một cơ quan gián điệp vấy máu nhiều nhất trong lịch sử tình báo thế giới. Chủ trương của Mossad là ăn miếng trả miếng, nợ máu phải trả bằng máu, theo phương thức của sư thái chưởng môn phái Nga My là đuổi tận, diệt tuyệt. Kẻ thù, khi đã bị đưa tên vào danh sách tìm diệt, thì dù cho có cao bay, xa chạy đến tận góc biển chân trời nào, ẩn trốn đến bao lâu, thì cũng bị thiên la địa vỏng của Mossad tìm đến, đưa về chầu diêm chúa.

Không những thế, việc trả thù còn nhắm vào thân nhân của những tên khủng bố, trước khi ra tay thanh toán, bộ phận tâm lý chiến của Mossad lại cho gởi vòng hoa và thiệp chia buồn với những hàng chữ “Xin nhắc nhở rằng, chúng tôi không quên và cũng không tha thứ”. Sau khi đưa nạn nhân về địa ngục, lại cho đăng phân ưu trên những tờ báo Á Rập, phát hành khắp cả Trung Đông.

Phương pháp hành động của Mossad là ném đá dấu tay, quyết không để lại một dấu vết nào, một chứng cớ nào, sau khi thi hành lệnh hành quyết.
Cộng đồng tình báo Do Thái có 3 cơ quan chính là: Tình báo quốc nội (Shin Bet), Tình báo Quân đội (Aman) và tình báo hải ngoại là Mossad. Mossad có nhiệm vụ thu thập tin tức tình báo, chống khủng bố, tiến hành các chiến dịch bí mật như các hoạt động bán du kích. Mossad được thàng lập tháng 12 năm 1949, đến tháng 3 năm 1951, tái tổ chức, trực thuộc văn phòng thủ tướng. Báo cáo trực tiếp với thủ tướng. Nhân viên hiện tại có khoảng 1,200.

2. Lý do sắt máu

image

Người Do Thái, sau khi bị diệt chủng 6 triệu người trong những trại tập trung của Đức Quốc Xã, và kể từ khi thành lập quốc gia, từng ngày, từng giờ, phải đối diện với cơn ác mộng bị xoá tên trên bản đồ thế giới, bởi khối Á Rập khổng lồ bao quanh.

Mọi người Do Thái, nam cũng như nữ, mỗi người là một tay súng, vừa học hành, làm việc và sẵn sàng chiến đấu để được sống còn, bảo vệ quốc gia, dân tộc. Những người chưa bị mất nước, chưa bị diệt chủng, chưa bị kẻ thù hăm doạ, có lẻ không hiểu nổi tâm tình của người dân đối với quốc gia, dân tộc, cũng như đối với kẻ thù, như người Do Thái cả.

Cái lợi thế của Mossad trong việc đào tạo một điệp viên, sẽ không khó gì rèn luyện một người nói tiếng Đức thành thạo, thao tác đúng với một sĩ quan Quốc Xã. Cũng không thiếu gì những người Viễn Đông, người Nga thật sự, hay một người thành thạo tiếng lóng của Hoa Kỳ, bởi vì trước kia, người Do Thái sống rải rác khắp nơi trên thế giới.

Mối lo ngại hiện nay của Do Thái là chương trình sản xuất vũ khí nguyên tử của Iran, một quốc gia Hồi giáo, chủ trương xoá tên Do Thái trên bản đồ thế giới.

3. Do Thái tấn công chương trình hạt nhân của Iran

Cựu giám đốc tình báo Mossad, Meir Dagan, không đồng ý một cuộc chiến tranh quân sự với Iran, cho rằng như thế không ngăn chặn được chương trình sản xuất vũ khí nguyên tử của nước nầy, trái lại, nó có thể dẫn đến thảm họa của một xung đột lớn trong vùng, kéo cả người Á Rập Hồi giáo như tổ chức Hamas, Hezbollah và có thể cả Syria vào nữa.

Meir Dagan ủng hộ bất cứ giải pháp nào có thể ngăn chặn chương trình hạt nhân mà không phát động chiến tranh quân sự với Iran.

Trong 8 năm giữ vai trò lãnh đạo Mossad, Meir Dagan đã tạo ra một thứ vũ khí thần kỳ, tuy không nói tên, nhưng rất nhiều người biết, đó là những cuộc tấn công chương trình hạt nhân Iran bằng một loạt sâu máy tính có tên Stuxnet.

3.1. Virus Stuxnet
Điểm đặc biệt của virus Stuxnet là có thể xâm nhập vào máy tính an ninh cao mà không cần phải nối kết vào Internet, một điều tưởng chừng như không có thể làm được.

image

Từ tháng 6 năm 2010, Stuxnet đã tấn công, và phát ra lịnh tự hủy, đối với hệ thống máy tính thuộc cơ sở hạt nhân Natanz của Iran, nơi mà các khoa học gia đang điều khiển các máy ly tâm làm giàu chất Uranium. Do Thái là nước tạo ra thứ vũ khí ảo, phi thường nầy.

3.1.1. Lần theo dấu vết
Symantec là một công ty an ninh mạng có chi nhánh đặt tại Tel Aviv, Do Thái. Người đứng đầu chi nhánh là Sam Angel cho biết: “Stuxnet là một cuộc tấn công tinh vi mà tôi chưa từng thấy, đã tấn công vào một công nghiệp lâu đời và đặc biệt là không nối kết với Internet, là một việc hiếm có. Các nước hứng chịu cuộc tấn công nầy là Iran, Indonesia, Malaysia và Belarus”.
Ngày 17-6-2010, Ulasen, một chuyên viên của công ty an ninh mạng, có tên là VirusBlokAda, tại Minsk, nhận được một Email của công ty Iran, phàn nàn rằng, những máy tính của họ liên tục bị tắc, rồi lại tự khởi động. Ulasen và một chuyên viên khác phải mất một tuần lễ để kiểm tra, thì mới phát hiện ra Stuxnet. Ulasen bèn thông báo cho các công ty an ninh mạng, trong đó có Symantec.
Một kỹ sư tại Symantec đã phát hiện ra 2 máy tính chỉ huy cuộc tấn công nầy. Một trong những máy chủ (Server) ở Malaysia và một server khác thì ở Đan Mạch.

Cả 2 máy chủ nầy đều được truy cập vào được bằng địa chỉ  http://www.todaysfutbol.com/ và địa chỉ http://www.mypremierfutbol.com/. Hai địa chỉ nầy được đăng ký dưới cái tên giả, bằng thẻ tín dụng giả, qua một công ty đăng ký Internet lớn nhất thế giới, có trụ sở ở Arizona, Hoa Kỳ.

image
Symantec đã liên lạc, ra và vào, tại 2 máy chủ nầy để theo dõi hoạt động của Stuxnet.

Theo phân tích, Stuxnet đã lây nhiễm khoảng 100,000 máy tính trên thế giới, trong đó, có hơn 60,000 ở Iran, hơn 10,000 ở Indonesia và 5,000 ở Ấn Độ.

Tại Natanz, các máy ly tâm được bảo vệ an ninh quân sự. Các máy ly tâm cao 1.8m, đường kính 10cm được đặt bên trong những boongke. Điều khiển hệ thống máy ly tâm là hệ thống điều hành Siemens do Đức chế tạo, chạy với Microsoft Windows.

3.1.2. (Phần kỹ thuật). Các lỗ hổng an ninh và kế điệu hổ ly sơn.

Stuxnet lợi dụng các lỗ hổng trong Windows để thao tác với hệ thống. Virus vào các máy tính qua các ổ USB. Ngay khi ổ nầy được nối kết với một máy tính trong hệ thống, thì việc cài đặt virus xảy ra âm thầm.
Trước hết, Stuxnet tìm kiếm các chương trình diệt virus trong máy để phá hỏng hoặc gỡ bỏ các chương trình đó.

Bước thứ hai, Stuxnet trú ẩn trong một phần của hệ quản lý và điều hành USB đó, và thiết lập đặc số kiểm tra, mục đích để làm gì thì các chuyên viên chưa biết rõ được.

Việc lây nhiễm sẽ dừng lại khi tổng số kiểm tra đạt đến giá trị bằng con số 19790509. Symantec suy đoán con số nầy là một mã số nào đó, khi đọc ngược lại, thì con số biểu thị ngày 09-05-1979, đó là ngày mà một thương gia Do Thái tên Habib Elghanian, bị Iran xử tử.

Đây có phải là sự việc trùng hợp hay không? Hay là một kế điệu hổ ly sơn, nhằm đánh lạc hướng?

image

Theo thuật ngữ chuyên môn, thì trong hệ điều hành (Operating System) Windows có những lỗ hổng an ninh gọi là lỗ hổng “Zero-day”, là những lỗ hổng mà chưa có “bản vá”. Ngoài chợ đen, lỗ hổng thông thường giá 100,000USD bán cho những tin tặc (Hacker).

Stuxnet đã khai thác ít nhất 4 lỗ hổng an ninh như vậy. Đối với Do Thái, việc tìm ra những lỗ hổng như thế, thì ngoài khả năng của họ.
Vậy, làm thế nào mà Mossad có được những thông tin về công nghệ vi tính Siemens đang được xử dụng tại trung tâm Natanz của Iran?

Có những đồn đoán cho rằng Hoa Kỳ đã giúp Do Thái trong việc nầy, bởi vì, có một viện nghiên cứu của chính phủ Hoa Kỳ ở Idaho, nơi đó các khoa học gia nghiên cứu công nghệ điều khiển vi tính Siemens đang được xử dụng ở Natanz.

image

Ngày 15-1-2011, tờ New York Times cho biết, Do Thái đã thử nghiệm có hiệu quả, là virus Stuxnet đã làm ngừng quay khoảng 1,000 máy ly tâm của Iran trong tháng 11 năm 2010, thật sự đã làm chậm lại sự phát triển chương trình hạt nhân của nước nầy.

Hai nhiệm vụ chính của sâu máy tính Stuxnet là, tấn công làm mất quyền điều khiển của các máy ly tâm, và bí mật ghi lại hoạt động của các nhà máy điện hạt nhân. Hệ thống điều khiển máy ly tâm của Iran do hãng Siemens của Đức chế tạo.

Ngày 19-10-2011, tờ New York Times cho biết, các nhà nghiên cứu phát hiện một loại virus mới tên là Duqu, có ý đồ đánh cắp những thông tin cần thiết để thực hiện một cuộc tấn công kế tiếp, nhưng mục đích hoàn toàn khác với virus Stuxnet.

4. Chiến dịch ám sát các khoa học gia nguyên tử Iran

4.1. Đánh bom giết chết nhà khoa học Mostafa Ahmed-Roshan
Ngày 11-1-2012, vào buổi sáng, một người đi xe moto đã gắn một quả bom nam châm vào chiếc xe Peugeot 405, chiếc xe phát nổ làm chết tại chỗ nhà khoa học hạt nhân Mostafa Ahmed-Roshan, 2 người khác trong xe là vợ và con gái bị thương nặng. Tài xế chết sau đó tại bịnh viện.

image

Ahmed-Roshan, 32 tuổi, cũng là giáo sư trường đại học Allameh Tabatabai, hiện là phó giám đốc trung tâm Natanz, làm giàu chất Uranium, một cơ sở rất quan trọng đối với ngành công nghiệp hạt nhân của Iran.

Trung tâm Natanz hiện có 8,000 máy ly tâm làm giàu Uranium, mỗi máy cao 1.8m, đường kính 10cm.

Sau cái chết của Roshan, chính quyền Iran khẳng định Hoa Kỳ và Do Thái đứng sau hành động giết người nầy.

Ngoại trưởng Hoa Kỳ, bà Hillary Clinton tuyên bố: “Tôi khẳng định rằng, Hoa Kỳ không can dự vào bất cứ hành động khủng bố nào trong nước Iran cả”.

Thủ tướng Do Thái, Shimon Peres cho biết: “Theo hiểu biết của tôi, thì Do Thái không can dự vào việc tấn công nầy”.

image
Hiện trường vụ ám sát chuyên gia hạt nhân Mostafa Ahmadi Roshan

image
Người Iran khiêng quan tài nhà khoa học trẻ Mostafa Ahmadi Roshan, 32 tuổi, được cho là bị Mossad ám sát ngày 11-1-2012

Phát ngôn viên bộ quốc phòng Do Thái phát biểu: “Tôi không biết ai ra tay đối với nhà khoa học Iran nầy, nhưng chắc chắn là tôi không có một giọt nước mắt nào cả”.

Thế nhưng trên trang Blog của mình, ông Richard Silverstein, một chuyên viên phụ trách về các vấn đề an ninh Iran, viết như sau: “Theo nguồn tin đáng tin cậy của tôi, thì Mossad và tổ chức MEK đã thực hiện cuộc tấn công giết người nầy”.  MEK (viết tắt từ một tên khác là Mojahedin-e-Khalq Organization) một tổ chức chống chính quyền Iran là Thánh Chiến Nhân dân (People's Mujahideen).

4.2. Cái chết của nhà khoa học Darioush Rezaeinejad
image
Ngày 23-7-2011, khoa học gia hạt nhân Iran, Darioush Rezaeinejad, 45 tuổi, bị bắn chết trong khi ông ta và vợ đậu xe chờ rước đứa con ở trường mẫu giáo. Hung thủ đi xe mô tô đã vọt mất liền sau đó.

Cũng như thường lệ, chính quyền Iran cáo buộc Do Thái và Hoa Kỳ đứng sau vụ ám sát đó.

4.3. Tình báo Mossad và phiến quân MEK đứng sau các vụ ám sát ở Iran
Ngày 10-2-2012, lần đầu tiên các quan chức Hoa Kỳ xác nhận, những vụ tấn công ám sát các nhà khoa học hạt nhân Iran, là do nhóm phiến quân MEK thực hiện. Nhóm nầy được tình báo Mossad tài trợ, huấn luyện và trang bị vũ khí.

Kể từ năm 2007 đến nay, có ít nhất là 5 khoa học gia hạt nhân Iran bị ám sát dưới nhiều hình thức.

Chính quyền Obama biết rõ chiến dịch nầy, nhưng khẳng định không nhúng tay vào. Ngoài các vụ ám sát, Mossad và MEK cũng liên quan đến một vụ nổ long trời lở đất vào ngày 12-11-2011, phá hủy trung tâm nghiên cứu phát triển hỏa tiễn ở Bin Kaneh, làm thiệt mạng thiếu tướng chỉ huy trưởng trung tâm và hơn 10 khoa học gia khác. Iran bị một cú thiệt hại quá nặng nề.

4.4. Lời thú tội của một thành viên MEK
image
“Tôi tên là Majid Jamali Fashi. Cách đây 3 năm, tôi tiếp xúc lần đầu tiên với Mossad tại Istanbul, Thổ Nhỉ Kỳ. Tôi được yêu cầu cung cấp tin tức về một số nơi ở Tehran. Tôi đã viết ra 30 trang, và đến giao cho toà lãnh sự Do Thái ở Istanbul. Sau đó, tôi được huấn luyện ám sát, tập dượt bắn súng, chạy trốn, dùng quần áo và mỹ phẩm để hoá trang. Trở về Tehran, tôi được cấp bom, súng đạn, 2 điện thoại vệ tinh và một chiếc Honda 125 phân khối.

Ngày 12-2-2010, qua 2 chiếc điện thoại, tôi nhận lịnh đánh bom giết khoa học gia Ali Mohammadi. Tôi dựng chiếc Honda có gắn bom, sát bên cạnh chiếc xe của Ali Mohammadi, khi ông từ trong nhà ra đến chiếc xe, thì tôi dùng remote control kích nổ. Tôi được thưởng trước 120,000 USD”.

Thanh niên tên Majid Jamali Fasha bị kết án tử hình ở Iran.

4.5. Iran bại trận trong cuộc chiến gián điệp

Kể từ năm 2005, cơ quan phản gián Iran Oghab-2 đã có nhiệm vụ bảo vệ bí mật tất cả những hoạt động có liên quan đến chương trình hạt nhân của nước nầy, bao gồm tên tuổi các nhà khoa học, các cơ sở, kế hoạch chương trình…Thế nhưng Oghab-2 đã thất bại trong nhiệm vụ.

image

-  Tháng 3 năm 2007, thiếu tướng Ali Reza Asgari, thứ trưởng quốc phòng, lãnh tụ Vệ binh Cách mạng, đã đào thoát sang tỵ nạn tại Hoa Kỳ. Đó là, trong chuyến công tác đến Damascus, Syria, ông để vợ ở lại đó, rồi thuê xe chạy đến biên giới, đưa hối lộ 1,500USD cho biên phòng để vào Istanbul, Thổ Nhỉ Kỳ vào ngày 7-2-2007, mà không cần giấy thông hành. Báo cáo cho biết, đã có 2 người đặt phòng cho ông để ở 3 đêm tại khách sạn Ceylan Hotel. Đến ngày 9-2 thì ông biến mất. Tờ Sunday Times cho biết, tướng Asgari là một kho tàng quý báu của tình báo Hoa Kỳ. Iran cho rằng Asgari bị bắt cóc và bị giết, họ đã khai tử ông. Hoa Kỳ cũng thừa cơ hội, khai sanh cho Asgari, với cái tên và lý lịch khác.

- Cũng trong năm 2007, khoa học gia nguyên tử Ardeshir Hassanpour bị chết một cách bí ẩn mà không tìm ra thủ phạm.
- Kế đến, tổng thống Obama công khai tuyên bố một cơ sở bí mật về hạt nhân ở Fordo. Thế là bí mật của Iran đã bật mí trước công luận.
-  Hoa Kỳ còn biết được biện pháp bảo vệ bí mật, là Iran đã chuyển 75% chương trình làm giàu
...

Chủ Nhật, 12 tháng 1, 2014

tương đồng và dị biệt giữa Do Thái và Việt Nam




Nên đọc để biết về Quê hương xứ sở VN 

Thử tìm tương đồng và dị biệt giữa Do Thái và Việt Nam


Do Thái và Việt Nam đều là hai quốc gia Á Châu. Do Thái nằm ở Tây Á. Việt Nam nằm ở Đông Á. Do Thái nằm trên bờ Địa Trung Hải. Việt Nam nằm trên bờ Thái Bình Dương và một phần nhỏ của Ấn Độ Dương. Trước kia dưới mắt người Âu Châu miền đông Địa Trung Hải là phương Đông. Sau này họ khám phá ra miền Đông Á và gọi đó là Viễn Đông (Far East- Extrême Orient) và vùng đông Địa Trung Hải được gọi là Cận Đông hay Tiểu Tế Á (Proche Orient; Near Orient- Asia Mineure: Minor Asia) và sau này gọi là Trung Đông (Moyen Orient; Middle East).
Do Thái và Việt Nam là hai quốc gia cổ xưa. Do Thái lâm vào cảnh vong quốc ba lần trong lịch sử.
Lần thứ nhất vua Sargon II xứ Assyria đày người Do Thái ra khỏi bản địa của họ năm 721 trước Tây Lịch.
Lần thứ hai vương quốc Judah bị vua Nebuchanezzar của Babylon xâm chiếm. Ngôi ĐỀN bị triệt hủy; người Do Thái bị cưỡng bách phải rời khỏi Jerusalem. Một số người Do Thái chạy sang Ai Cập. Một số sống ở thành Babylon như những người nô lệ và lính đánh thuê.
Lần thứ ba đế quốc La Mã phá hủy ngôi ĐỀN năm 70 sau Tây Lịch. Người Do Thái hoàn toàn không còn tổ quốc. Họ sống rải rác khắp nơi trên thế giới ban đầu trên lục địa Á Châu, Âu Châu, Phi Châu và sau này khắp cả Mỹ Châu và Đại Dương Châu. Đâu đâu cũng có người Do Thái sinh sống. Đâu đâu họ cũng bị ghét bỏ, khinh khi và suy bì ganh tỵ. Chữ Juif mà người Pháp dùng để chỉ người Do Thái như hàm nghĩa mọi thứ xấu mà giống người này phải gánh chịu. Năm 1492 vương quốc Tây Ban Nha trục xuất người Do Thái ra khỏi kinh đô Toledo. Ở Anh, Pháp, Ý, Đức, Nga, Ba Lan, Hung Gia Lợi, Romania, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha… dưới bất kỳ chế độ chánh trị nào họ cũng bị ghét bỏ. Nhưng kỳ lạ thay, ở những xứ ấy đều có những công dân lỗi lạc mang dòng máu Do Thái trong chánh quyền. Disraeli là thủ tướng lỗi lạc của Anh vào thế kỷ XIC. Léon Blum, Mendès France là thủ tướng của Pháp. Karl Marx, người khai sinh ra chủ nghĩa cộng sản làm xáo trộn thế giới, là người Đức gốc Do Thái. Lenin, người thành lập Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản, là người Nga có dòng máu Do Thái bên ngoại. Trotsky, nhân vật số hai sau Lenin sau cách mạng năm 1917 ở Nga, và nhiều ủy viên trong Bộ Chánh Trị đảng Cộng Sản Nga thời Lenin đều có dòng máu Do Thái trong người. Gia đình dòng Rothschild nổi tiếng trong hoạt động ngân hàng ở Âu Châu. Eistein, Cham Weizman, Oppenheimer… nổi tiếng trên lãnh vực khoa học. Lối 30% giải Nobel thuộc các lãnh vực khác nhau do người Do Thái hay người quốc gia khác mang dòng máu Do Thái chiếm giữ. Địa bàn thuận lợi cho sự phát triển và phát huy ảnh hưởng của người Do Thái trên thế giới là Hoa Kỳ, nơi họ không bị kỳ thị như đã thấy ở các lục địa khác. Năm 1948 Hoa Kỳ là quốc gia đầu tiên trên thế giới công nhận quốc gia Do Thái. Quốc gia thứ nhì là Liên Sô, mặc dù dưới thời Stalin người Do Thái cũng bị sát hại rất nhiều không khác gì sự đối xử của các Nga hoàng thời phong kiến hay của Hitlet trong Đệ nhị Thế chiến mặc dù không có lò hỏa thiêu. Điều đáng ngạc nhiên là Stalin bài Do Thái nhưng lại có quan hệ thân mật với phụ nữ Do Thái. Ái nữ của ông là Svetlana yêu Alexei Kapler, một nhà sản xuất phim gốc Do Thái. Ông đày Kapler về tội làm gián điệp cho Tây phương hay nói rõ hơn cho Anh! Sau Svetlana kết hôn với Grigori Morozov, một người gốc Do Thái khác. Stalin không phản đối nhưng không dự tiệc cưới và ra lịnh cầm tù cha chú rể! Ở Nga có một Vùng Tự Trị của người Do Thái ở Tây Bá Lợi Á gần Mãn Châu (J.A.O: Jewish Autonomous Oblast) do Stalin thành lập năm 1934 để cô lập người Do Thái vì Stalin rất ghét những đảng viên Cộng Sản cao cấp gốc Do Thái như Trotsky, Zinoviev, Kamanev, v.v… Kaganovich là một ngoại lệ. Ông không bị Stalin sát hại và sống đến năm 1991. Ông là cộng sự viên đắc lực của nhà độc tài Stalin trong thời kỳ Đại Thanh Trừng vào thập niên 1930. Sau Đệ Nhị Thế Chiến Stalin lại bắt đầu chánh sách bài Do Thái. Nào là người Do Thái làm gián điệp cho tư bản. Nào là vụ bác sĩ Do Thái âm mưu đầu độc các lãnh tụ Cộng Sản v.v… Ở Hoa Kỳ cho đến bây giờ vẫn chưa có một người Hoa Kỳ mang dòng máu Do Thái nào được bầu làm tổng thống, mặc dầu vẫn biết rằng ảnh hưởng của người Do Thái trên nước này rất lớn.
Việt Nam bị Trung Hoa đô hộ từ năm 207 trước Tây Lịch đến năm 938 sau Tây Lịch, nghĩa là từ khi Chao To (Triệu Đà) chinh phục nước Âu Lạc bằng cách dùng nam nhân kế để trộm nỏ thần đến khi Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng mở đầu kỷ nguyên độc lập cho nước nhà. Việt Nam mất độc lập nhưng không phải sống ly tán viễn phương (diaspora) như người Do Thái đã làm mất lãnh thổ hoàn toàn. Người mất độc lập, mất chủ quyền với người mất nước gởi thân nơi đất khách quê người để nhục nhã, chua xót và đau đớn như nhau.
Người Do Thái cho rằng họ là dân tộc được Thượng Đế lựa chọn.
Người Việt Nam tự nhận mình là con Rồng cháu Tiên.
Trong Cựu Ước Kinh có đề cập đến đại hồng thủy và chiếc thuyền khổng lồ của Noah để giữ các giống thảo mộc và súc vật trong thời gian bị đại hồng thủy.
Trong truyền thuyết Việt Nam có chuyện Sơn Tinh Thủy Tinh phản ánh những cơn lụt dữ dội do sông Hồng gây ra. Ở Việt Nam có sông Hồng. Gần Do Thái có Hồng Hải. Vịnh Aqaba là một phần của Hồng Hải trong đó có cảng Eilat, hải cảng duy nhất ở cực nam nước Do Thái. Để đến đó tàu bè phải dùng kinh đào Suez. Sự phong tỏa kinh đào Suez năm 1956 làm tê liệt sinh hoạt của thành phố cảng này.
Trong Cựu Ước Kinh có ghi chuyện người thanh niên bé nhỏ David (bé nhỏ so với Goliath nhưng so với người thường David là người cao lớn) đương đầu với người khổng lồ Goliath. Không ngờ người bé nhỏ Davis lại giết chết người khổng lồ bằng một hòn đá nhỏ được bắn ra từ một cái giàn thun trúng ngay ấn đường của người khổng lồ Goliath.
Cuộc kháng cự của người Việt Nam trước sự xâm lăng của Trung Hoa được mô tả như cảnh châu chấu đá xe giống như người thanh niên bé nhỏ David trước người khổng lồ Goliath vậy. Nhưng kết quả lại không lường trước được vì:
Nực cười châu chấu đá xe,
Tưởng rằng chấu ngã, ai ngờ xe hư
Vật nhỏ, phương tiện tầm thường nhưng đánh trúng vào nhược điểm thì có thể đánh ngã đối phương nhanh chóng.
Người Do Thái có ĐỀN để thờ thánh Jehovah. Đó là cái trục tinh thần của họ, nó củng cố đức tin, niềm tin và hy vọng vô biên của họ. Sự triệt hủy cái ĐỀN đồng nghĩa với sự triệt hủy đức tin, niềm tin và hy vọng của họ. Khi tinh thần và đức tin của họ bị dao động, họ phải chịu cảnh đọa đày. Trong kiếp sống đọa đày và ly hướng suốt 2,000 năm họ tự xây ĐỀN trong tâm hay khi có dồi dào tiền bạc họ xây ĐỀN ở những nơi họ cư trú. Họ tin Đức Jehovah luôn luôn bên họ. Họ phát triển và duy trì niềm tin ngày mai ở thành Jerusalem trong lời chào hỏi hằng ngày. Họ gìn giữ tiếng Hebrew trong gia đình. Họ bảo tồn dòng giống và duy trì mọi cổ tục Do Thái. Họ nói ngôn ngữ nơi họ sống, phục vụ tốt quê hương nuôi sống họ nhưng vẫn nửa hồn cho đất mới; nửa hồn cho đất tổ và ngôn ngữ Hebrew bất diệt. Sự thành lập quốc gia Do Thái năm 1948, sự hồi sinh một ngôn ngữ chết trên 2,000 năm và sự biến cải sa mạc nóng bỏng với những đồi núi khô cằn thành những cánh đồng xanh phủ đầy vườn cây ăn trái và cây lương thực là một phép lạ. Thành quả này không thể có nếu không có một đức tin vững chắc trải qua vô vàn thử thách: nhục nhã vì nghèo đói và phiêu bạt không quê hương; bị ghét bỏ vì không dễ dàng bị các dân tộc khác đồng hóa khi kiên trì đức tin của mình với giáo đường, nghĩa địa, tập tục và ngôn ngữ riêng; bị suy bì ganh tỵ khi học hành tốt; giàu có và thành công trên nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau trên thế giới.
ĐỀN ở Do Thái chỉ thờ Đức Jehovah. ĐÌNH ở Việt Nam thờ đa Thần. Các vị Thần hoàng đều là người Việt Nam do vua sắc phong. Thần có thể là anh hùng dân tộc, tướng lãnh hữu công, nhà kinh tế nông nghiệp, nhà cai trị nhân đức ở địa phương, nhân tài ở địa phương, người chết nhầm giờ linh được nhiều người công nhận v.v… Thần hoàng có ba đẳng cấp khác nhau:
1. Thượng Đẳng Thần
2. Trung Đẳng Thần
3. Hạ Đẳng Thần
Hằng năm Xuân, Thu nhị kỳ đều có lễ cúng Đình. Đó là cơ hội để dân làng gặp nhau tưởng nhớ vị Thần hoàng đã mang lợi ích cho dân địa phương khi còn sống cũng như phù hộ cho họ khi đã khuất. Chính tinh thần yêu nước của người Việt Nam được thể hiện qua việc thờ cúng các anh hùng dân tộc trong ĐÌNH. Dưới thời Pháp thuộc dân chúng ở Rạch Giá vẫn thờ Nguyễn Trung Trực, một anh hùng chống Pháp từng chiếm Rạch Giá cả tuần lễ sau khi bị bắt và xử tử ở Rạch Giá. Sự tôn thờ ấy quả là một sự thách thức lớn đối với người Pháp vậy.
Năm 1954 gần một triệu người Việt Nam ở miền Bắc rời bỏ vùng Cộng Sản kiểm soát để vào Nam. Họ rời khỏi nơi sinh quán ở miền Bắc nhưng vẫn còn sống trên phần đất của quê hương ở phía Nam. Từ năm 1975 đến năm 1990 có trên 2 triệu người Việt Nam vượt biên tìm tự do và lẽ sống sau khi chánh phủ Sài Gòn hoàn toàn sụp đổ. Ngày xưa người Do Thái bị ngoại nhân xâm chiếm. Họ bị cưỡng bách phải sống ly hương. Trường hợp người Việt Nam ở 80 quốc gia trên thế giới hiện nay không giống như thế. Họ bị chính người Cộng Sản đồng chủng và đồng bào với họ cướp tự do, lẽ sống, tư hữu và cả tương lai của con cái họ đến nỗi không thể nào sống nổi tại quê hương nên không còn cách nào khác hơn là phải chấp nhận những nguy hiểm trên biển cả hay trong rừng sâu Cambodia để tìm sinh lộ, niềm tin và hy vọng cho một tương lai sáng sủa hơn cho chính họ và cho thế hệ mai hậu. Trước năm 1975 cũng có một số sinh viên du học ở Pháp, Hoa Kỳ, Úc Đại Lợi, Tân Tây Lan, Canada, Liên Sô, Trung Hoa Cộng Sản và các nước Đông Âu không về. Những người này đã sống ly hương một cách tự nguyện vì nhiều lý do riêng khác nhau chớ không giống như những người đồng hương và đồng chủng của họ sau năm 1975. Cũng không thể so sánh những đối tượng này với người Do Thái trong cảnh sống ly tán rải rác khắp hoàn cầu sau năm 70 sau Tây Lịch.
Sau nhiều thăng trầm trong các cuộc đấu tranh sinh tồn của các bộ lạc du mục thời cổ ở Trung Đông giữa người Phoenicians, Canaanites, Assyrians, Sumerians, Hittites, Hurrians, Amorites, Elamites, Philistins… chỉ có người Do Thái (Semites) còn tồn tại và lập quốc sau trên 2,000 năm vong quốc và sống ly tán trên khắp năm châu.
Trong quá trình bành trướng Hán tộc các dân tộc trong nhóm Bách Việt ở miền nam sông Yang Tze (Dương Tử) đều bị Hán hóa. Chỉ có nhóm người Việt trên châu thổ sông Hồng, sông Mã, sông Cả và sông Chu không bị đồng hóa và có quốc gia riêng biệt mặc dù trải qua trên 1,000 năm Bắc thuộc. Sau hàng ngàn năm Bắc thuộc và nhiều thế kỷ dài nội chiến và nội loạn còn bị các dân tộc láng giềng phía nam và phía tây sách nhiễu dân tộc Việt Nam đã viết ra lịch sử bằng huyết lệ của mình. Như một phép lạ dân tộc ấy đã dùng sự dũng cảm, mồ hôi, nước mắt và xương máu của mình để nới rộng lãnh thổ từ vĩ tuyến 18 xuống đến vĩ tuyến 8 độ 33’ trong vòng 7 thế kỷ.
Do Thái có DAVID được xem là một vị tướng bất bại. Việt Nam có NGUYỄN HUỆ cầm quân từ năm 19 tuổi và bất bại suốt cả đời binh nghiệp của mình. David là người chăn chiên và Nguyễn Huệ xuất thân từ một gia đình nông dân. Cả hai không có nhiều cơ hội học hành cũng không được huấn luyện quân sự ở một trường võ bị nào. Nhưng cả hai được trui rèn trong môi trường sống. Davis từng giết gấu và sư tử vồ chiên, trừu mà ông chăn ngoài đồng. Nguyễn Huệ sống trong rừng núi có nhiều dã thú nên trong vùng sinh quán của ông dân chúng rất giỏi võ nghệ. Bản thân Nguyễn Huệ khi còn trẻ đã đánh hạ một con cọp. Thành tích này giúp cho ông chỉ huy đám quân ô hợp của Tây Sơn dễ dàng từ khi ông mới 19 tuổi và ông đã biến đạo quân ô hợp này trở thành đạo quân bất bại trong lịch sử Việt Nam. David và Nguyễn Huệ đều xưng vương. Chiến công của David làm cho vua Saul ghen ghét mặc dù Saul ràng buộc David bằng cách gả con gái cho ông. David không hân hạnh trở thành phò mã của Saul. Saul gả con gái cho David vì e ngại David sẽ lật đổ mình. Cuối cùng sự lo ngại ấy cũng không tránh khỏi. Vua Lê Hiến Tông gả công chúa Ngọc Hân cho Nguyễn Huệ với hy vọng nhờ Nguyễn Huệ bảo vệ ngai vàng chống lại sự lộng quyền của họ Trịnh. Sau ganh tỵ chiến tích quân sự của David giống như Nguyễn Nhạc ganh tỵ thành tích diệt họ Trịnh của Nguyễn Huệ khi đem quân ra Bắc Hà mà không có lịnh của ông. Hai anh em nhà Tây Sơn xích mích kể từ đó để đất nước có ba chánh quyền: hai chánh quyền của nhà Tây Sơn ở miền Trung và miền Bắc và chánh quyền của Nguyễn Ánh ở miền Nam. Nguyễn Huệ tự xưng là hoàng đế Quang Trung ngự trị từ Bến Ván ra đến biên giới Việt-Hoa. Nguyễn Nhạc là hoàng đế Thái Đức ngự trị từ nam Bến Ván đến Bình Thuận. Nguyễn Ánh kiểm soát vựa lúa trên đồng bằng sông Đồng Nai và sông Cửu Long.
Năm 1785 quân Tây Sơn dưới sự chỉ huy của hoàng đế Quang Trung đã đánh đuổi 200,000 quân Mãn Thanh ra khỏi nước trong một cuộc chiến tranh chớp nhoáng kéo dài 06 ngày (từ 30 đến mồng 05 Tết năm Kỷ Dậu – 1789). Năm 1967 Do Thái đánh bại 230,000 liên quân Ai Cập, Syria và Jordan trong cuộc Chiến Tranh Sáu Ngày (05-10 tháng 06 năm 1967).
Trải qua chiều dài lịch sử hàng ngàn năm Do Thái và Việt Nam là hai nước có chinh chiến triền miên.
Do Thái phải chiến đấu chống lại các bộ lạc du mục trong vùng, chống lại Ba Tư (Persia tức Iran bây giờ), Hy Lạp thời Alexander Đại Đế, Ai Cập và Đế Quốc La Mã. Sau cuộc vong quốc năm 70 say Tây Lịch dải Đất Hứa của họ đặt dưới sự thống trị của Đế Quốc Thổ Nhĩ Kỳ. Trước đó không lâu là bãi chiến trường trong cuộc Thánh Chiến giữa người Thiên Chúa Giáo Âu Châu và người Hồi Giáo chiến Thánh Địa Jerusalem. Sau Đệ Nhất Thế Chiến vùng Đất Hứa và toàn thể các quốc gia Hồi Giáo thuộc Đế Quốc Thổ Nhĩ Kỳ trước kia đặt dưới sự ủy trị của Anh và Pháp.
Sau vụ án oan nghiệt và bất công mà toàn án quân sự Phápc dành cho Đại úy Dreyfus năm 1894, tiến sĩ Theodor Herlz (1860-1904) tổ chức Đại Hội Phong Trào ZIONISM Thế Giới tại Vienna để bàn về việc thành lập quốc gia Do Thái hầu tránh những bất công và kỳ thị của các dân tộc khác dành cho người Do Thái ly hương và vô tổ quốc (1897). Ông không thành công như ý muốn. Phong trào lập quốc trở nên quyết liệt vì những chánh sách bài xích và thảm sát người Do Thái của Hitler trong Đệ Nhị Thế Chiến. Năm 1948 quốc gia Do Thái chào đời giữa tiếng đạn pháo tấn công từ cách quốc gia Ả Rập láng giềng (Ai Cập, Jordan (lúc ấy là Transjordon), Syria, Iraq, Lebanon). Từ đó đến nay, ngoài những cuộc chiến tranh lớn vào năm 1948, 1956 (chiếm bán đảo Sinai), 1967 (chiến tranh sáu ngày), 1973 (chiến tranh ngày Yom Kippur), 1982 (tiến chiếm nam Lebanon), 2006 (tấn công miền nam Lebanon)…, Do Thái luôn luôn ở trong tình trạng bị các nước Hồi Giáo láng giềng đe dọa đòi chấm dứt sự hiện hữu của quốc gia họ ở Trung Đông.
Việt Nam trải qua hàng ngàn năm Bắc thuộc, nhiều thế kỷ nội chiến và nội loạn. Ngoài chiến đấu chống sự xâm lấn lãnh thổ của nhà Tống (Song), sự xâm lăng của nhà Nguyên (Yuan), sự xâm chiếm của nhà Minh (Ming) và nhà Thanh (Quing) dân tộc Việt Nam còn phải đương đầu với những sự quấy phá của Lào Qua (Lào) ở phía Tây và Chiêm Thành ở phía Nam, sự xâm lăng của Pháp, sự chiếm đóng của Nhật và sự can dự của Pháp, Trung Hoa Cộng Sản, Liên Sô, Hoa Kỳ vào vấn đề Việt Nam, dân tộc Việt Nam không ngừng chịu gian khổ để đối phó với lụt lội, bão tố, hạn hán, hoàng trùng tàn phá mùa màng.
Nếu từ thời Cựu Ước Kinh người Do Thái biết dùng mỹ nhân kế trong chiến tranh cũng như trong việc chi phối đường lối chánh trị của các nhà độc tài bài Do Thái như Hitler hay Stalin thì trong lịch sử Việt cũng có nhiều đám cưới chánh trị. Họ Nguyễn từ Nguyễn Kim, Nguyễn Hoàng, Nguyễn Phúc Nguyên đến Nguyễn Ánh… đều biết dùng mỹ nhân kế làm phương tiện chánh trị. Nguyễn Kim gả con gái cho Trịnh Kiểm để có một cộng sự viên trung thành và giỏi về quân sự tuy rằng Trịnh Kiểm xuất thân từ một gia đình nghèo khó. Nguyễn Hoàng dùng mỹ nhân kế để đánh bại nhà Mạc và một người con gái khác cho vua Chiêm Thành để tiến hành cuộc Nam tiến trong hòa bình. Nguyễn Ánh gả em gái cho Võ Tánh để mua chuộc lòng trung thành của ông này giữa lúc anh của Võ Tánh là Võ Nhân chống lại Nguyễn Ánh sau khi Nguyễn Ánh giết tướng Đỗ Thành Nhân.
Sự dị biệt giữa Do Thái và Việt Nam rất lớn.
Người Do Thái góp mặt trong cộng đồng thế giới từ thời Cựu Ước Kinh. Mộ của nhà tiên tri Daniel (thế kỷ V trước Tây Lịch) ở Tashkent thuộc xứ Uzbekistan, một cựu Cộng Hòa Sô Viết ở Trung Á. Về địa điểm chôn cất nhà tiên tri Daniel người ta con nhắc đến Susa ở Iran và Kirkuk ở Iraq. Sau năm 70 sau Tây Lịch người Do Thái lưu lạc khắp các lục địa Á-Âu, Phi rồi Mỹ Châu và Đại Dương Châu. Người Việt Nam là dân tộc da vàng đến Hoa Kỳ sau tất cả các dân tộc khác trên thế giới kể cả Mông Cổ, Tây Tạng và Triều Tiên. Thế giới quan của người Do Thái rất rộng trong khi kiến thức của đa số dân Việt Nam về thế giới bên ngoài bị giới hạn bởi lũy tre làng với phép vua lệ làng, những cổ tục đầy mê tín, dị đoan hơn là màu sắc tôn giáo.
Do Thái có chữ viết (Hebrew), luật lệ (Mười Điều Răn), tôn giáo độc thần (Judaism – Do Thái giáo) ngay từ thời kỳ mông muội của nhân loại. Người Việt Nam tiếp nhận Khổng, Lão, Phật Giáo từ người Trung Hoa. Khổng Giáo và Lão Giáo xuất phát từ Trung Hoa. Phật Giáo xuất phát từ Nepal nhưng Phật Giáo đại thừa ở Việt Nam là Phật Giáo Hán hóa với hằng hà sa số phật đến nỗi người khai sáng Phật Giáo chỉ có một tượng nhỏ trong chùa. Ý niệm đa thần giáo đến từ Trung Hoa ảnh hưởng sâu đậm đến người Việt Nam khi thờ Ông Địa, Thổ Thần, Thần Tài, Thần Tái, v.v… Trong quá khứ, Việt Nam, Triều Tiên, Nhật Bản đều chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa. Người Việt Nam có vẻ thưởng thức truyện Tàu, thức ăn của các cao lâu Tàu cũng như phim ảnh Tàu sâu đậm hơn cả. Việc Nhật cử hành Tết Dương Lịch và tỷ lệ 30% dân số Nam Hàn theo đạo Tin Lành và Thiên Chúa Giáo là những tín hiệu Tây phương hóa của họ tách rời ra khỏi quỹ đạo văn hóa Trung Hoa. Kết quả là hai quốc gia Đông Á da vàng này đã có những tiến bộ kinh tế và khoa học kỹ thuật khả quan trên thế giới.
Thế giới biết đến Do Thái từ lâu qua quyển Thánh Kinh, tiên tri Daniel, Chúa Jesus, những đóng góp của người Do Thái trên mọi lãnh vự hoạt động trên thế giới và những chiến tích của họ sau ngày lập quốc. Thế giới mới để ý đến Việt Nam qua hai cuộc chiến tranh kéo dài từ sau Đệ Nhị Thế Chiến đến năm 1975 trong đó Pháp và Hoa Kỳ đóng vai chủ động. Như đã nói, trên thế giới có ít ra 30% các nhà bác học lãnh giả thưởng Nobel mang dòng máu Do Thái trong người. Từ năm 1948 đến nay riêng quốc gia Do Thái đã có 10 người được giải Nobel. Người Do Thái trên thế giới lối 15 triệu người. Những cống hiến của họ trên lãnh vực khoa học, kỹ thuật, kinh tế, tài chánh, văn hóa, nghệ thuật, truyền thông… không thể chối cãi được. Nước Do Thái có không đến 7 triệu dân vừa phải vất vả lao động để biến dải Đất Hứa khô cằn thành những cánh đồng xanh tươi để có sữa và mật, vừa chiến đấu chống lại những người láng giềng không muốn thấy họ hiện diện trong vùng, vừa tiếp nhận những thành kiến lạnh lùng, bất thân thiện từ vô số người khác. Họ vẫn hiện hữu một cách danh dự và hào hùng bằng những thành quả kinh tế, quân sự, khoa học kỹ thuật xuất phát từ trí tuệ, công sức lao động và niềm tin sắt đá vào sự sống còn và tương lai xán lạn của mảnh Đất Hứa của 7 triệu người đang cần một tổ quốc để nương thân. Thủ tướng Ben Gurion, người có công lớn trong việc lập quốc Do Thái, sau khi rời khỏi chánh quyền, vào sa mạc canh tác và chăn nuôi cùng các nông dân khác. Một nhà lãnh đạo tài ba và khiêm tốn như vậy khích lệ mọi công dân hăng say trong việc đóng góp trí tuệ và công sức mình cho công cuộc kiến thiết quê hương. Du khách đến Do Thái sẽ ngạc nhiên khi được biết có người lái tắc xi trong thành phố hay một nông dân trong sa mạc Neguev từng là giáo sư đại học ở Âu Châu hay Mỹ Châu. Với những nhà lãnh đạo tài năng, khiêm tốn và liêm khiết và những công dân lỗi lạc, ưu tú sẵng sàng từ bỏ đời sống nhung lụa ở nước ngoài để về quê hương tổ phụ cày ruộng, lái tắc xi, làm thợ trong công trường… thì bảo đảm đất nước ấy phải phồn vinh và hùng mạnh. Đó là sự khác biệt giữa Ben Gurion và “Bác Hồ” và những người cầm quyền Cộng Sản ở Việt Nam thời hậu Hồ Chí Minh. Ben Gurion lập quốc gia Do Thái (1948) và Lee Kwan Yew (Lý Quang Diệu) lập quốc gia Singapore (1965) với những thành quả lẫy lừng được toàn thế giới ngưỡng mộ nhưng cả hai đều không nhận mình là Cha Già Dân Tộc như ‘Bác Hồ’. Hồ Chí Minh lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Pháp. Nước Pháp từng bị Đức chiếm đóng trong Đệ Nhị Thế Chiến, uể oải vì sự tàn phá của chiến tranh và cách xa thuộc địa hàng chục ngàn cây số, thế nhưng Hồ Chí Minh phải nhận cố vấn và võ khí của Trung Hoa Cộng Sản để đánh bại Pháp ở Điện Biên Phủ để phải chấp nhận chia đôi đất nước! Đánh đuổi một ngoại nhân ra khỏi nước để đón hai ngoại nhân vào (Trung Hoa Cộng Sản và Liên Sô) và có một đất nước qua phân! Đó là cuộc chiến tranh Thần Thánh sao? Ben Gurio vào sa mạc làm nông và chăn nuôi chứ không có vườn rau được tưới bằng nước lọc tinh khiết như Tổng Bí Thư Lê Khả Phiêu và cũng không có dinh thự sang trọng như bất kỳ vị cầm quyền Cộng Sản nào từ cấp xã đến cấp trung ương ở Việt Nam. Sau các trận đánh, sĩ quan Do Thái thường tử trận rất nhiều. Sự xông pha trận mạc của các sĩ quan động viên tinh thần của quân sĩ rất nhiều. Do Thái là một quốc gia dân chủ, luật pháp rất nghiêm minh. Tổng thống Moshe Katsav (2000-2007) bị toàn án tuyên xử 07 năm vì tội hiếp dâm và sách nhiễu tình dục (2011). Con trai thủ tướng Sharon bị điều tra khi ông tại chức vì có 500,000 Mỹ kim không rõ nguồn gốc.
Việt Nam có 90 triệu dân từng có một quá khứ oanh liệt sao bây giờ lại thấy mình bé bỏng và yếu hèn trước cường lân phương bắc? Quyền hành, lợi lộc, sự hưởng thụ vật chất không do công sức và khả năng của mình làm ra chỉ làm tê liệt lòng dũng cảm hơn là gây phấn chấn tinh thần. Trên thế giới có biết bao nhiêu quốc gia nhỏ bé và ít dân như Do Thái, Na Uy, Thụy Điển (Na Uy và Thụy Điển khá rộng lớn nhưng thưa dân lại nằm cạnh nước Nga khổng lồ), Đan Mạch, Hòa Lan, Bỉ, Lục Xâm Bảo (Luxemburg), Thụy Sĩ, Singapore… vẫn sống sung mãn, hạnh phúc và danh dự không phải sợ sệt, khép nép trước một quốc gia láng giềng to lớn và đông dân nào cả. Dân chúng ở các nước ấy được tự do, no ấm và được hưởng trọn vẹn quyền làm người. Đất nước được phồn vinh và tiến bộ.
Do Thái đi từ vong quốc 2,000 năm đến lập quốc và quyết tâm bảo quốc và vệ quốc.
Việt Nam có tổ quốc lại tự nguyện đi vào con đường vong quốc với:
- Hiệp ước 1999, 2000 nhường đất và biển, đảo cho Cộng Sản Trung Hoa;
- Ngoại giao với ‘Bốn Tốt’ và ‘Mười Sáu Chữ Vàng’
- Cho Trung Hoa Cộng Sản khai thác quận mỏ, lập nhiều công ty và nhà máy sử dụng thuần công nhân người Hoa từ Bắc chí Nam. Trong tỉnh Bình Dương họ thành lập Đông Đô Đại Phố, một thành phố hiện đại nơi cư dân thuần là người Hoa. Nhiều tên đường mới mang tên chữ Hán. Chùa chiền tân lập, đình miếu cũng đầy chữ Hán. Trường học ở Việt Nam bị khủng hoảng vì thiếu thầy dạy tiếng Quan Thoại!
- Cho người Trung Hoa thuê đất trồng rừng ở các tỉnh biên giới Việt-Hoa
- Cho người Trung Hoa lục địa ồ ạt vào Việt Nam tự do và dễ dàng hơn sự đi lại trên đất nước của chính họ.
- Tổ chức ngày Thăng Long năm 2010 đúng vào ngày Quốc Khánh của Trung Hoa Cộng Sản (01-10) và bế mạc vào đúng ngày Quốc Khánh của Taiwan (Đài Loan- Trung Hoa Dân Quốc) (10-10)
- Tự nguyện cho cờ CHNDTQ thêm một ngôi sao nhân ngày Nguyễn Phú Trọng sang Beijing (10-2011) và ngày Xi Jinping (Tập Cận Bình) đến Hà Nội (12-2011).
- Đàn áp, bắt bớ và cầm tù những người biểu tình chống Trung Hoa Cộng Sản xâm chiến Hoàng Sa, Trường Sa và ngang ngược tự cho mình có chủ quyền trên lãnh hải quê hương. Nguyễn Chí Vịnh được phái sang Beijing, hứa sẽ có biện pháp mạnh không để cho những cuộc biểu tình như vậy tái diễn.
Đó là tính ưu việt của Đảng Cộng Sản Việt Nam sao?
Người được gọi là Bác Hồ ‘Cha già dân tộc’ là:
- người chủ trương tiêu diệt TRÍ, PHÚ, ĐỊA, HÀO khi thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam đổi thành Đảng Cộng Sản Đông Dương năm 1930. Tiêu diệt Trí, Phú, Địa, Hào là tiêu diệt vốn trí tuệ và sáng kiến của dân tộc. Lợi ích gì? Có lợi cho ai?
- người gọi Lenin là cha, là thầy, là cố vấn và gọi anh hùng dân tộc Trần Quốc Tuấn là ‘bác’. Cách xưng hô khép nép đầy tính nô dịch và thần phục này chưa hề được tìm thấy ở bất cứ vị lãnh đạo quốc gia chân chính nào trên thế giới.
- người đã đặt tên núi Các-Mác và suối Lê-Nin ở Pắc Bó (1) như nhắc nhở đến công cha và nghĩa mẹ của mình vậy. Karl Marx khinh bỉ phương thức sản xuất Á Châu. Lenin, Stalin xem trọng công nhân và khinh thường nông dân. Đảng Cộng Sản là đảng của giai cấp công nhân. Nơi nào Cộng Sản nắm chánh quyền, dù là Cộng Sản Sô Viết hay Cộng Sản Maoist, nông dân là những người bị đói và bị đàn áp trước hết vì chánh quyền Cộng Sản tập thể hóa nông nghiệp và thâu lúa do nông dân sản xuất đem ra thành phố nuôi công nhân. Nông dân có thể chết đói hay ăn khoai dù sản xuất lúa gạo nhưng công nhân được cấp 14 kí-lô gạo điều hòa hằng tháng. Marx và Lenin có biết gì về Việt Nam đâu mà công cha với nghĩa mẹ. Điều này nói lên sự trung thành và biết ơn của ‘Bác Hồ’ đối với người xây dựng thành trì Cộng Sản thế giới. ‘Bác Hồ’ được Liên Sô huấn luyện hai lần (1924, 1934) và trả lương để phục vụ cho Liên Sô hay phục vụ cho Việt Nam? Câu trả lời có lẽ không khó đối với bất cứ người nào có lý trí bình thường. Trên đường phục vụ Liên Sô, HCM đã đưa dân tộc và nước Việt Nam vào vòng nô lệ bằng mồ hôi, nước mắt và xương máu dân tộc và tài nguyên tổ quốc lại còn được gọi là ‘Cha Già Dân Tộc’ một cách tôn kính.
- chủ trương xóa bỏ biên giới để Tôi dắt năm châu đến đại đồng (HCM) vẫn biết rằng Liên Sô và Trung Hoa Cộng Sản cổ xúy các nước nhỏ lân bang xóa bỏ biên giới giữa lúc họ đánh nhau vì tranh chấp biên giới năm 1969. Trung Hoa Cộng Sản mở chiến tranh biên giới với Ấn Độ (1962), và Việt Nam khi quốc gia Cộng Sản này có đường lối thân Liên Sô (1979, 1984).
Như vậy hiện nay các nhà lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam đang hoàn thành chữ HIẾU mà Bác Hồ, ‘Cha Già Dân Tộc’ của họ, theo đuổi dở dang. Để báo HIẾU với Marx, Lenin, Stalin, Mao Zedong (Mao Trạch Đông) ông phải dùng bạo lực, sắt, máu và lửa để đưa cả nước và toàn dân tộc vào vòng nô lệ Liên Sô và Trung Hoa Cộng Sản. Liên Sô không còn nữa nên chỉ còn báo HIẾU với Trung Hoa Cộng Sản mà thôi. Sự im lặng của 90 triệu người Việt Nam là ấn dấu của sự sợ sệt, lãnh đạm hay tán đồng? Người ta trông chờ câu trả lời cụ thể từ các vị lãnh đạo tôn giáo từng xuống đường rầm rộ ở miền Nam từ năm 1963 đến 1975, các nhà trí thức và những tầng lớp được gọi là trụ cột của nước nhà vì họa vong quốc ngày càng đậm nét. Việc thâu hồi Hoàng Sa và Trường Sa vẫn còn phù vân dật dờ trong khi việc mất nước Việt Nam vào tay Cộng Sản Trung Hoa ngày càng hiển nhiên và khó tránh khỏi do sự tự nguyện Hán hóa của các lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam.

Giữa người và người vẫn có sự giống nhau về tướng mạo, tiếng nói và đôi khi cả về định số nữa tuy rằng sự tương đồng không đạt đến 100%. Giữa các quốc gia và các dân tộc dẫn có một số điểm tương đồng và dị biệt về định mệnh lịch sử tuy không cùng chủng tộc, tôn giáo, hoàn cảnh xã hội, kinh tế, lịch sử và địa lý nhưng tất cả đều không thoát khỏi định luật:
Mạnh được, yếu thua
Khôn sống, dại chết.
hay phải chấp nhận một cách thụ động:
Lý kẻ mạnh bao giờ cũng thắng
(La raison du plus fort est toujours la meilleure)
Phản ứng hữu hiệu trước kẻ hung bạo và ngang ngược là phải can cường và mạnh dạn bộc lộ ý chí muốn sinh tồn của 90 triệu người vì:
Run sợ, than khóc hay van xin đều hèn nhát như nhau
(Gemir, pleurer, prier east egalement lache)
Đó là cảm nghĩ thô thiển của người đã chọn và viết tiêu đề ngắn ngủi này.
Phạm Đình Lân, F.A.B.I

Thứ Tư, 8 tháng 1, 2014

Phong-trào Tẩy-chay Hàng-hóa Tàu-phù


Phong-trào Tẩy-chay Hàng-hóa Tàu-phù
trên toàn Hoa-Kỳ đã bắt-đầu !


Làm-sao phân-biệt được hàng "Made in China" ?

Cách trình bày ngoài hộp những sản-phẩm Made in China thường mập-mờ,
thí-dụ Hộp Green Tea dưới đây:
Packed by
The royal Pacific Tea Company Inc.
Po.Box 6277.Scottdale.Arizona 85261-6277
email :
royalpacific@syspac.com

Nhưng xem lại Mã số vạch vẫn bắt đầu từ số 690 cho tới 695 !!
Hộp, bao gói ngoài trình-bày khá sang-trọng , nhìn không có vẻ bẩn-thỉu chút nào ! Nhưng phải coi-chừng !  
Làm thế nào để phân biệt những sản phẩm được sản xuất tại
Mỹ, hoặc ở Âu Châu , Nhật Bản ..., hay Ba-Tàu?
Dưới đây là cách để biết nguồn gốc cuả các sản phẩm:
Có 3 chữ số đầu tiên của mã vạch xác định mã quốc gia ở đó sản phẩm được thực hiện.
Ví dụ: tất cả các mã vạch bắt đầu bằng :
690, 691, 692, 693 , 694 , 695 :
Tất cả được LÀM TẠI XỨ CCCC (CHỆT-CỘNG CHÓ-CHẾT )
Một thí-dụ ,
Hãy nhìn kỹ mã-số "gạch đít" dưới đây :
Description:                                                            Description:                                                            Description:                                                            IMAGE_14
4 71 is Made in Taiwan .

Mã vạch bắt đầu bằng 471 được in trên các sản phẩm xuất xứ Đài Loan.

Bạn có quyền được biết. Nhưng chính phủ và ngành liên quan
không bao giờ thông báo hoặc giáo dục công chúng.

Hôm nay, các doanh nhân Ba Tàu biết rằng người tiêu dùng sẽ
không lựa chọn sản phẩm sản xuất tại CCCC . Vì vậy, chúng cố gắng
giấu tên tên của quốc gia sản xuất trên các sản phẩm của chúng !
Tuy nhiên, bạn có thể biết được xuất xứ của các sản phẩm nhờ những
số đầu tiên của mã vạch.
Sản-phẩm được sản-xuất tại CCCC có mã-số bắt-đầu bằng 690 đến 695

CÁC MÃ VẠCH:
00 ~ 13   USA & CANADA  (không cần quan-tâm con-số thứ ba)
30 ~ 37   FRANCE  (có nghĩa là từ 30 , 31 ... cho tới 37)
40 ~ 44  CHLB Đức (Những nước tân tiến mã-vạch chỉ cần 2 con-số là đủ xác-nhận) 
57   Đan Mạch
64   Phần Lan
50   Vương Quốc Anh                                                                                                                                                                &am p;am p;am p;am p;am p;am p;am p;am p;am p;am p;am p;am p;am p;nb sp;               76   Thụy Sĩ và Liechtenstein

628   Ả-Rập Saudi
629   United Arab Emirates
740 ~ 745   Các quốc-gia Trung Mỹ 

Xin hãy thông-báo cho gia-đình và bạn-bè của chúng ta  
ĐỪNG MUA BẤT CỨ SẢN-PHẨM NÀO
BẮT-ĐẦU BẰNG CÁC MÃ-SỐ SAU-ĐÂY : 690................
691................
692................
693................
694................
695................
Còn một cách nữa để nhận-biết ra "Chú Ba", đó là tìm mãi không thấy tên nước sản-xuất - thì đích-thị là chú.
Thiệt là nhục-nhã cho lũ gian-manh đáng ghê-tởm , trốn chui trốn lủi , không dám nhận mình là mình nữa ! HÈN !
Đừng quên nhé : 690 , 691 , 692 , 693 , 694 , 695
Từ 690 đến 695 = CCCC ( Chệt-Cộng Chó-Chết ) ! Hãy thảy ngay xuống !


Phong-trào Tẩy-chay Hàng-hóa Tàu-phù

trên toàn Hoa-Kỳ đã bắt-đầu !

  

Mời tham-gia và phổ-biến rộng-rãi !!



Thứ Sáu, 3 tháng 1, 2014

TIẾNG CHUÔNG NGÂN





TIẾNG CHUÔNG NGÂN TRONG ĐÊM LẠNH,

65 năm, kể cũng đáng một đời người đấy chứ nhỉ? Năm đó là năm 1949, kháng chiến đã bước sang năm thứ ba, đang ở giai đoạn “Tích cực cầm cự, chuyển mạnh sang tổng phản công”, cái năm mà người dân đã dần quen với kháng chiến, với bom đạn, người tản cư cũng đã thấy cuộc sống nay đây mai đó có thể chấp nhận được.
Với cái tuổi mười tám, cái tuổi đang yêu, chàng trai Hà Nội rời thành phố ra đi cũng đã nguôi ngoai với chiếc quần trắng, tà áo lụa dài màu hồ thủy, của một chiều hòa nhạc Ấu trĩ viên… Thay thế mái tóc với chiếc kẹp nhựa là vành khăn mộc nhuộm nâu, trùm ngoài là tấm khăn mỏ quạ màu đen. Không có chút hương liệu của bất kỳ thứ hóa chất nào, mà chỉ có mùi rơm cháy tạo nên “món hun khói” toàn thân, nồng nàn và thi vị cho bất cứ ai mang tâm hồn “Nguyễn Bính”.
Tối hôm đó, sau khi làm ám hiệu cho nàng rằng tôi đợi ở ngoại đê và ra về thì ngay sau đó, nàng đã kiếm cớ được với mẹ già để ra đê cùng tôi. Vào tháng mười ta, tiết trời đã se lạnh và đoạn đê này trống vắng tứ bề, nên chỉ có thể sưởi ấm cho nhau bằng cách ôm thật sát. Nàng chắc cũng cảm thấy tấm khăn mỏ quạ gây nên sự vướng víu nào đó, nên dã nhẹ nhàng lật nó ra khỏi đầu và cho tuột xuống cổ. Chao ôi, cơ thể tôi run rẩy vì mùi hương lạ và ấm từ nàng tỏa ra. Hai chiếc khuy bấm cuối tà áo không làm khó dễ gì cho Anh Nguyễn Bính mà lại còn đồng lõa với tôi. Chỉ một đoạn ngắn nữa là vuông yếm đũi chỉ còn là hình thức. Hai bàn tay tôi tuy không đến nỗi tê cóng nhưng cũng đủ để mang hơi lạnh chạm vao da thịt nàng, gây cho nàng từng cơn run rẩy. Lạ thay cơn run tẩy đó cũng mau chóng lây lan sang tôi. Thật vô lý khi phơi mình trước gió để nghe cái điệp khúc của hai hàm răng lập cập va chạm vào nhau, tôi rủ nàng vào cái tam quan, phía trong đê một quãng.
Dưới mái tam quan đã thấy hơi ấm tăng lên rõ rệt, nhưng là cái cổng nên tuy đêm hôm khuya khoắt cũng dễ có người qua lại. Những bậc thang lên cổng tam quan cũng tiện, nên tôi rủ nàng lên trên đó. Lúc này tôi có cảm giác nàng sẵn sàng nghe theo tôi bất cứ điều gì. Lên đến nóc tam quan cũng có nghĩa là đã vào chùa, nên cái sự thèm “oản” của tôi càng thôi thúc tợn. Mỗi lúc sự ham khám phá của chàng trai lần đầu biết đến miền đất lạ càng khiến tôi quên mất đây là đất Phật. Cả hai sinh vật tội lỗi mải mê đến mức quên cả thận trọng cho đến khi không biết tôi hay nàng va vào thân cái chuông treo ngay bên cạnh. Một tiếng bô.ô.ng phát ra tuy nhẹ, nhưng trong đêm vắng nó vang xa không kém mỗi buổi chiều khi nhà chùa cất tiếng thu không. Không biết đây có phải là tiếng chuông cảnh tỉnh hay không? Mà cả hai chúng tôi đều đột ngột thoát tục, vả lại không muốn chuốc lấy sự rắc rối khi bị nhà chùa phát hiện, chúng tôi tụt xuống thang và mau chóng ra về, bỏ lại giấc mộng thiên thai dang dở sau lưng. Sau này, mỗi lần nghĩ lại chuyện xưa, tôi thấy tôi đáng bị trừng phạt vì đã chót xàm xỡ làm ô uế chốn Phật đài… Và còn điều này nữa, cũng thật là trớ trêu và khó hiểu, lúc đó chúng tôi chỉ có hai đứa, sao lại còn có kẻ thứ ba nào nữa, đã lẻn đến, rồi đập vỡ vào bên trong tấm váy sồi, đúng chỗ đó một quả trứng gà?

Thứ Năm, 2 tháng 1, 2014

Thiền Ngôn


Thin Ngôn

https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEjKhQyjsVLgIf6occ0T8RQrnYYQqC5h2CcP4oeTfqYyYIs4QFzc4wns2_gUV0QI82yVPXRInJm8mN27Q6P0mR-Q5EKc66UKdVxqydjgM8soN8pCEtNRxmrGmxwaJC6uPFMHOpKYSAz07Kuy/s640/0001.jpg

- Vô ngã có nghĩa là tất cả pháp đều không phải là ta hay của ta. Ta và của ta chỉ là ý niệm thôi chứ không có thật. Vì dù không có ý niệm "ta" gán vào thì pháp vẫn vận hành. Trong mỗi cá nhân có những yếu tố hợp lại mà thành như thân vật lý (physical body), cảm giác (sensation), tri giác (perseption), phản ứng tâm lý (mental action and reaction), tâm thức (mind, consciousness), chúng tương quan với nhau mà tạo thành quá trình sự sống (living process), trong đó không có gì là ta và của ta cả.
Viên Minh
https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEiHZrlaqBB-S0rjSyJ31pyGo6cM113ZSGkeM5S2snuht6m5yQKve44InaiwOLO-5JOulRdJnGpjJm-maqTBuBnOaAga24xoc1F4nz2mt51tGuyw9PhFgAy-uUmzh_H0ErM-dovbYtqFdOzA/s640/0002.jpg

- Dù có tôn giáo hay không tôn giáo, dù kiến tánh hay chưa kiến tánh thì luật nhân quả vẫn là sự vận hành chung cho muôn loài vạn vật không trừ một ai. Người làm đúng là đúng, người làm sai là sai, người làm tốt là tốt, người làm xấu là xấu, luật nhân quả không dành riêng cho người nào cả. Còn việc đúng sai tốt xấu thì cứ để luật nhân quả cân nhắc phán xét, chúng ta không nên dựa vào hiểu biết về nhân quả hạn hẹp của mình để đánh giá hành động của người khác.

Viên Minh

https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEi4I5Ggor930uXSO38mZR1v5K46v0h-qHEJjQzCuwtPfK4wIrPwMtASpYw-CC3_n_mhfu32O1bls9COdszY8NVLWdJvjDSmy-u43XUqanhNrV4rHh312FAmL3LQ2bi-W55FXZNEhdwYDBZx/s640/0003.jpg

- Tin vui cho tất cả mọi người: có thể tự giải phóng mình khỏi sự hành hạ của tâm trí. Cách đơn giản nhất như sau: Hãy bắt đầu nghe tiếng nói trong đầu mình như bạn vẫn thường có thể nghe. Hãy đặc biệt chú ý tới bất kỳ hình mẫu ý nghĩ lặp lại nào, những thứ âm thanh này có lẽ đã lặp đi lặp lại trong đầu nhiều năm rồi. Quá trình như vậy chính là chứng kiến người suy nghĩ.

- Không gian và thời gian chung cuộc là ảo tưởng của tâm trí. Chúng chứa cốt lõi chân lý là hai thuộc tính bản chất của cái Một: vô hạn và vĩnh hằng.


Eckhart Tolle

https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEj9LRKWIjlztIVBRw1zOry2EwqQu8UN83refypG10VIeakTuNdL8J4n0ZETwhkRsam30bJfKOIZtGiNtAjGApRPBlSyJYDewuH1qxt2noULDk98tAWeDSAChu4Db4EmEi5zeigffrFdKobN/s640/0004.jpg

Hãy nhớ rằng không phải chúng ta đang cố gắng Ðể Trở Thành một ông thánh hay một cao nhân nào cả. Chúng ta cũng không nổ lực Ðể Tống Khứ một ác pháp nào hết. Hãy sống hồn nhiên và thoải mái. Cảnh giới nội tâm của chúng ta Là Như Vậy. Nó có thể là bất tịnh hay trong sáng và đó là một cặp hành trạng đối đãi nhau của ý thức. Thấy rõ Chúng như là Chúng, thấy rõ Chúng luôn vô thường, vô ngã thì đó chính là trí tuệ vậy. Trong khi đó, bằng một ý thức ngã chấp, chúng ta cố gắng mong mỏi "Tôi sẽ phát triển những gì thanh tịnh, tống khứ những gì không thanh tịnh " thì lập tức cái không thanh tịnh sẽ xuất hiện và kềm hãm chúng ta. Chúng ta lại vấp vào khối đá thất vọng trên đường đi của mình, thế là tiếp tục đau khổ. Hãy cẩn trọng với hai tháng cấm túc này. Vô minh luôn sẵn sàng khiến cho chúng ta tự chuốc lấy những khổ lụy.

Sumedho

https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEguKxwCedzIjfP7sxf4Ku1o3Qrpn2I1gU77z4NhkaR4PWC0xQfbuWN7F_kb-F7w8zwH3Hwk3pnKQoOMuhzvYsDVzinvZcBkPxDaSCuvhQwRLUeBhpM9ty_su6keCWSPJdzop0wAfT4pAMiq/s640/0006.jpg

- Ai trải qua sự thật về khổ thì người ấy thấy ra bản chất vô thường, khổ, vô ngã trên cõi thế gian, nhờ chấp nhận sự thật này mà người ấy thanh tịnh trong sáng, và ai thanh tịnh trong sáng thì giác ngộ giải thoát, thấy rõ thực tánh chân đế và Niết-bàn.

-Thấy pháp và chia sẻ pháp với những người hữu duyên hình như là sứ mạng rất tự nhiên và đương nhiên của bất kỳ ai nhận ra lẽ sống trong nguyên lý "tùy duyên thuận pháp, vô ngã vị tha". Thấy pháp thì một mặt chịu ơn sâu của Tánh Biết, mặt khác lại mang nghĩa nặng của Đất Trời - khó mà có thể đáp đền


Viên Minh

https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEgyozxyQAn0P0Xlh12kUf1iUc8x-7Df5aAq1fL0hErS0EyJ6AeU2ZMIweTO0BqHWLBkBTLVIYTwNRY_bAlLIdjjIAmKQRlFQGvMY8R9mMfNHqxHgZx6ae727gPwfHmE42DPFbfJ6UMN33rD/s640/0007.jpg

Trong một nội tâm đầy chánh niệm, tất cả hạnh phúc và khổ đau đều đồng giá trị. Không có gì khác biệt giữa hai thực tại này hết. Cái nào cũng là Ðang Là, xuất hiện rồi biến mất. Hạnh phúc vẫn là Hạnh phúc, Ðau khổ cũng cứ là Ðau khổ. Chúng là cái Chúng Là. Chúng vô ngã và chỉ có vậy. Chúng ta đừng để mình phải đau khổ vì chúng. Chỉ việc đón nhận, nhìn mặt và hiểu biết chúng. Tất cả cái gì có mặt đều phải có lúc biến mất. Tất cả đều vô ngã!

Sumedho

https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEjgavOmH9PeGp3hdaXhnS0NCnsyj8qzKFis07ihyphenhyphen4M_71y1JM5kjxuIP63_p40wmqMIojRvailGI1xFGIO3eLAmHq0T0j-1ZFIcQfT4yeEkxZdLipXNkDzDJfbzD58DEwIIzVJX70EbBKYN/s640/c%25E1%25BA%25A3nh+%25C4%2591%25E1%25BA%25B9p+NB.jpg


- Trong thực tánh chân đế không có khái niệm toàn hảo và bất toàn. Nhưng khi có sự mong mỏi đạt đếnmột lý tưởng toàn hảo thì mới có khái niệm bất toàn đối nghịch với ý niệm toàn hảo mà sinh ra chấp thủ nhị nguyên. Khi nói câu này thầy chỉ muốn nhắc rằng nếu muốn cầu toàn trong ảo vọng một cách nhị nguyên như vậy thì tốt hơn là nên trở về nhận ra tính bất nhị ngay trong thế giới vô thường, bất toại và vô ngã này. Giác ngộ chính là thấy ra mọi hiện tượng thế gian đều không hoàn hảo như lý tưởng cầu toàn, do đó buông xuống cái ta ảo tưởng lăng xăng tạo tác để cầu toàn, mới giác ngộ ra thực tánh chân đế như nó đang là vượt ngoài khái niệm toàn hảo và bất toàn.
Viên Minh

https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhQdRIR-59OzUkl7Ih5mZRW-NAcnfMW3N9AGXWyRozC5IXEYi4E0ZDK53ddgex0gyYS9krlFTNLPEPXGNog_j2zIPqXiTHF7BxTlR6JN2o4ZNAT_tMl7N-tviLWTaRg0kIxXRhiaa4jzAKi/s640/0008.jpg

- Về bản chất, vô trí là nơi phát sinh mọi sự sáng tạo. Đa số những người có bằng cấp cao lại ít sáng tạo không phải vì họ không biết cách suy nghĩ, mà vì họ không biết cách dừng suy nghĩ.

- Một cách rất đơn giản để tránh xa tâm trí là đưa sự tập trung chú ý của bạn hướng vào thân thể. Cảm giác về thân thể bên trong của bạn là vô hình dạng, vô giới hạn và không dò được. 


Eckhart Tolle

https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEjOlHi5s1wXlOx7PsxhXwBu2AQc2NqSjA12Za1L3o-1BXtMT3Y9NLvdZ53K6U6SKyuObapI0iqsdE1vK8Y3SgyOeJmwO9KaJh6mJmERt0LWyX9pZ1PNFIZPSSTwPUVsqiJkK2BtWZoyJGJx/s640/00011.jpg

-Tâm của người hành thiền thì không chạy đây đó. Nó nằm yên tại một chỗ. Khi tốt và xấu, hạnh phúc và đau khổ đến, người hành thiền chỉ đơn thuần nhận biết mà không để chúng thấm ướt tâm. Nói cách khác người hành thiền không dính mắc vào cái gì cả.

-Đừng cố gắng trở thành cái gì. Đừng nhẩy vào bất cứ chuyện gì. Cũng đừng là một thiền sinh. Đừng mong giác ngộ. Lúc ngồi thì hãy ngồi. Khi đi thì hãy đi. Chẳng nắm giữ gì mà cũng không chống đối gì cả... Hãy để mọi sự tự nhiên.


Ajahn Chah

https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEgjug3BJE8lgk3zh0VFQQ9BvG0aaUAVk4mKXkO5yRnbIl2vIReYG6DbBF-F5W_6lOWcnMiJ2jGtpwD3jRlLBkJJu3q3_WbLv8_4IhToxmE92lrZunEBsopoxYgWf-B4_f4T5yTxt-oAtDGJ/s640/00001.jpg

Tánh biết thấy pháp là việc tự nhiên nên nó không cần dụng ý dụng công, chỉ có "người muốn biết" mới có dụng ý và phải dụng công. "Người muốn biết" chính là cái ta ảo tưởng, khi nó xen vào tánh biết thì cái biết trở nên chủ quan và trì trệ, khó thấy được pháp như nó đang là.

Cứ để tâm tự nhiên mà thấy thì tánh biết tự biết điều chỉnh cái thấy cho thích nghi với mọi đối tượng của nó. Đừng cố gắng nhìn, nghe... để nắm bắt điều gì vì lúc đó khái niệm đã xen vào, mà khái niệm đi trước thì cái thấy bị trì trệ và không còn trung thực được nữa nên cái thấy không thể đồng nhất với pháp trên tính chất chỉ có duy nhất tại đây và bây giờ (thời, vị và tính) của nó. Tự nhiên, vô tâm (không trước ý) và giản dị là bí quyết mà cũng là phẩm chất của tánh biết đối với vạn pháp.

Viên Minh

https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEjPy_-TdDz7ujrP185uOfbWSd-LYTziwSdJCD1bbAIo9tc8gkCR06eBgSWbWIp8BnvM10fs4nvgkAfZ8enOl9lfWgPPE-Oo3QY2V_a2OZvI4AzR-jMxyC33OE1PFMuGtaeF-P2xHARaYsnV/s640/00012.jpg

- Bạn “đạt tới” chứng ngộ (cứu giúp) bằng việc bạn nhận ra rằng bạn đã ở đó rồi. Bạn tìm thấy Thượng Đế vào khoảnh khắc bạn nhận ra rằng bạn không cần tìm kiếm Thượng Đế. Bạn không thể làm được điều này trong tương lai. Bạn làm nó Bây giờ hoặc không bao giờ làm được điều đó. 

Eckhart Tolle

https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEiUFdjKgY1Wq5ZaH3KxtsijMTDvmldUJUR4OVYv_ARePaE6Ehte8S5fLN0XK6ho-gsTg-ANByL3bX25_OzruLUUm-TRbmNyKjjgeuGdHG_Xvqva-NFsuM6EhimViJ7k_DtL2r3QEly1bwXG/s640/0000.jpg

- Khi tâm an tịnh tức là nó đang ở trong điều kiện bình thường. Khi tâm di động thì tư tưởng hình thành. Hạnh phúc hay đau khổ là một phần của tâm hoạt động này. Bất an và tham ái cũng được hình thành như thế. Nếu bạn không hiểu rõ chuyển động này, bạn sẽ săn đuổi đàng sau tư tưởng hình thành mãi, và trở thành nạn nhân của nó.

Thứ Tư, 1 tháng 1, 2014

LS. LÊ QUỐC QUÂN THẮNG KIỆN TẠI LHQ


TIN VUI: LS. LÊ QUỐC QUÂN THẮNG KIỆN TẠI LHQ

LHQ vừa công bố quyết định về 2 vụ đã được đệ trình LHQ: Ls. Lê Quốc Quân và 17 thanh niên yêu nước từ Vinh.

Quyết định của LHQ cho rằng Hà Nội đã vi phạm các quyền căn bản của Ls. Lê Quốc Quân. Họ bác bỏ cáo buộc về trốn thuế và cho rằng đó chỉ là cớ để trừng phạt Ls. Quân vì đã hành xử quyền tự do ngôn luận của mình.

Kết luận rằng việc giam giữ Ls. Lê Quốc Quân là tùy tiện và vi phạm luật quốc tế, LHQ kêu gọi Hà Nội thả Ls. Quân ngay lập tức và đền bù thiệt hại đã gây cho anh.

12 tổ chức nhân quyền đã liên tục vận động cho Ls. Lê Quốc Quân từ ngày anh bị bắt vào tháng 12 năm ngoái. Mời bạn xem thông cáo của họ:

---oo---

UN Rights Tribunal Calls for Release of Vietnamese Blogger Activist
2 December 2013
The detention of Vietnamese blogger, lawyer and human rights activist, Le Quoc Quan, has been condemned by a United Nations human rights tribunal as violating his right to freedom of expression and his right to a fair trial.

The UN Working Group on Arbitrary Detention, a tribunal set up under the UN’s Human Rights Council, found that Le Quoc Quan had been targeted for his work as an activist and as a blogger and called for his immediate release or for his conviction to be reviewed by an independent court. It also recommended that Viet Nam should pay damages to Le Quoc Quan for his arbitrary detention.

While Le Quoc Quan had been imprisoned for alleged tax evasion, the tribunal found that his detention might be “the result of his peaceful exercise of the rights and freedoms guaranteed under international human rights law” and “related to his blog articles on civil and political rights.” The tribunal added that “given Mr Quan’s history as a human rights defender and blogger, the real purpose of the detention and prosecution might eventually be to punish him for exercising his right [to freedom of expression] and to deter others from doing so.”

The Working Group’s condemnation is in response to a petition filed by the Media Legal Defence Initiative, Media Defence-Southeast Asia, Lawyers for Lawyers, Avocats Sans Frontières, Front Line Defenders, Access, English PEN, Reporters Without Borders, the Electronic Frontier Foundation, ARTICLE 19, Index on Censorship and Lawyers’ Rights Watch Canada.

These organisations now call on the government of Viet Nam to comply with the decision of the United Nations Working Group and release Le Quoc Quan immediately. They reiterate that the conviction and ongoing detention of Le Quoc Quan are arbitrary and violate his rights to freedom of expression, freedom of association, a fair trial and his rights as a human rights defender.

The decision of the Working Group (A/HRC/WGAD/2013) can be downloaded from the website of the Media Legal Defence Initiative by clicking here.

Notes to editors:

· Le Quoc Quan was arrested on 27 December 2012 on baseless charges of tax evasion. Following his arrest, he was held incommunicado and denied permission to see his lawyer for two months. Repeated requests by his family to visit him were also denied. Mr Quan first saw a family member at his trial on 2 October 2013, at which he was convicted of evading corporate income tax and sentenced to 30 months imprisonment and a fine of 1.2 billion dong (approximately USD 59,000). He has appealed this decision.

· The Vietnamese government has long persecuted Le Quoc Quan for his human rights work. In 2007, after representing numerous victims of human rights violations, he was disbarred from practicing as a lawyer on suspicion of engaging in “activities to overthrow the regime”. He has been arrested several times for continuing his human rights advocacy. Following an attack by unknown assailants in August 2012, he was hospitalised. The attack was never investigated by the police.

For more information, please contact:
· Nani Jansen, Senior Legal Counsel, Media Legal Defence Initiative:
· Gail Davidson, Executive Director, Lawyers’ Rights Watch Canada
· Adrie van de Streek, Executive Director, Lawyers for Lawyers
· Jochai Ben-Avie, Policy Director,
Accessnow.org· HR Dipendra, Director, Media Defence – Southeast Asia
· Eva Galperin, Senior Policy Analyst, Electronic Frontier Foundation (EFF)
· Benjamin Ismail, Head Asia-Pacific Desk,
· Mary Lawlor, Executive Director, Front Line Defenders:
· Cat Lucas, Writers at Risk Programme Manager, English PEN
· Nathalie Muller Sarallier, Avocats Sans Frontières Network
· Kirsty Hughes, Chief Executive, Index on Censorship:
· Thomas Hughes, Executive Director, Article 19: