Bài đăng phổ biến

Thứ Bảy, 28 tháng 12, 2013

Bánh Mì Và Sự Thật


Bánh Mì Và Sự Thật
 
Tác giả: Tưởng N Tiến


S
ứ mệnh cao cả của nhà báo là kiếm tìm sự thật. Sự thật ấy phải được phản ánh đạt tính chân thật, tức là “đúng hiện thực khách quan”. Và sự thật ấy phải được soi dọi bằng lương tâm chức nghiệp. Tôi nhớ người Nga có một câu ngạn ngữ vô cùng chí lí: “Một nửa cái bánh mỳ vẫn là bánh mỳ, nhưng một nửa sự thật đã là sự giả dối!”
-
Ngọc Niên, Tổng Biên Tập trang Nhà Báo & Công Luận – Cơ Quan Trung Ương Hội Nhà Báo Việt Nam

Ph
ần 1 của Sự Thật

Cái gì ch
ớ “nửa cái bánh mì” thì tui ăn đều đều, còn “nửa sự thực” thì tới bữa rồi mới được thưởng thức qua một bài viết (Người đàn bà tặng hơn 5.000 lượng vàng cho cách mạng) của nhà báo Hoàng Thuỳ, trên trang Tin Nhanh Việt Nam:

“H
ơn 90% số tiền buôn vải được vợ chồng bà Hồ dùng để ủng hộ cách mạng. Có khi trong nhà không sẵn tiền mà đúng lúc cách mạng cần, bà sẵn sàng bán phá giá vải để gom đủ tiền đưa cho cán bộ.

Ở tuổi 97, bà Hoàng Thị Minh Hồ vẫn giữ nét đẹp của người phụ nữ Hà Nội gốc: Gương mặt phúc hậu, nước da trắng, giọng nói ấm áp và thái độ điềm đạm. Trong ngôi nhà số 34 Hoàng Diệu (Hà Nội), nơi bà sống cùng hai con trai, hai chiếc huân chương độc lập hạng nhất được đặt nơi trang trọng nhất. Bà cho hay, đó là phần thưởng cao quý mà nhà nước dành tặng người chồng quá cố Trịnh Văn Bô và bà vì những đóng góp to lớn cho cách mạng.

Gi
ữ giọng chậm rãi, bà Hồ kể, ngôi nhà số 48 Hàng Ngang của bà trước kia là tiệm vải Phúc Lợi, thuộc loại lớn nhất Hà Nội thời bấy giờ.

Có đi
ều kiện dư dả, hai ông bà thường xuyên làm từ thiện, giúp đỡ người nghèo. Thấy vậy, cán bộ Việt Minh đã đến nhà vận động ông bà đi theo cách mạng. Việt Minh khó khăn, không có tiền ra báo, bà đã ủng hộ 8 vạn rưỡi tiền Đông Dương. Ngôi nhà số 48 Hàng Ngang cũng được chọn làm trụ sở hoạt động của cách mạng.

Bà H
ồ cho biết, thân sinh ra bà là cụ Hoàng Đạo Phương và Nguyễn Thị Lợi cũng như thân sinh của chồng bà, cụ Trịnh Phúc Lợi, đều là những nhà Nho yêu nước, từng tham gia Đông Kinh Nghĩa Thục. Tất cả đều đỗ đạt mà không ai làm quan. Cụ Phương khi gần 80 tuổi đã gọi các con lại nói rằng: “Ta đã già mà chưa làm trọn việc nước, sau này con nào có điều kiện giúp nước thì hãy làm thay ta”.

“L
ời căn dặn của cha tôi luôn khắc ghi trong lòng. Và khi có điều kiện là tôi giúp nước ngay mà không hề suy nghĩ”, bà Hồ tâm sự.

Ngôi nhà s
ố 48 Hàng Ngang được xây theo kiểu nhà ống cổ, gồm 4 tầng. Tầng một là cửa hàng vải Phúc Lợi nổi tiếng khắp vùng. Khách đến mua đông đúc, xung quanh lại tấp nập người qua lại nên được chọn làm nơi ở cho Bác Hồ cùng những nhà lãnh đạo cách mạng từ chiến khu trở về.

Bà H
ồ nhớ, vào một buổi tối cuối tháng 8 năm 1945, ông Nguyễn Lương Bằng đến nhà bảo vợ chồng bà thu xếp một phòng đón cán bộ cách mạng đến ở. Ông bà dọn một phòng tầng 3 tươm tất để đón khách. Tuy nhiên, người khách mới đến lại dọn xuống tầng 2 để ở cùng mọi người cho tiện.

“
Ấn tượng đầu tiên của tôi về người khách mới là sự giản dị. Ông cụ hơi gầy, vầng trán cao, râu dài, tóc bạc. Cụ mặc áo nâu, quần soóc nâu, đội mũ dạ, đi dép cao su hiệu con hổ trắng, tay cầm can. Để đảm bảo bí mật, chúng tôi nói với gia nhân rằng họ là người nhà ở dưới quê lên chơi và tất cả đều không được lên tầng 2 làm phiền”, bà Hồ nhớ lại.

33 ngày Bác
ở nhà bà (từ 24/8 đến 27/9), bà đều trực tiếp chỉ đạo nhà bếp nấu ăn phục vụ Người. Sau đó, hai vợ chồng bà thay nhau bê lên. Vào 9h hằng ngày, bà thường bê cháo và hoa quả lên cho Bác. Một hôm bà đang định quay gót thì Bác hỏi “Cô tên gì?”. Sau khi bà trả lời, Bác lại nói “Cô còn trẻ mà đã có cơ đồ sự nghiệp, có chồng con, tiền bạc. Cô chẳng có gì khổ cả”.

Nghe v
ậy bà Hồ khẳng khái nói: “Cháu vẫn có một điều khổ, đó là nỗi nhục mất nước”. Bác cười: “Vậy thì kiên trì và nhẫn nại nhé!”

Ph
ần 2 của Sự Thật

Sau khi “cách m
ạng” thành công, ông Hồ Chí Minh trở thành chủ tịch nước thì bà Hoàng Thị Minh Hồ lại lâm vào cảnh … mất nhà. Đó là nửa phần sự thực còn lại của câu chuyện mà nhà báo Hoàng Thuỳ đã không kể kết, hay nói một cách không mấy lịch sự là ông ấy “nhất định dấu biến đi cứ y như là mèo dấu cứt” vậy.
 
Ph
ần nửa sự thực này mới được công luận biết đến qua một tác phẩm mới (Bên Thắng Cuộc) của một nhà báo khác, Huy Đức:

“Năm 1954 t
ừ nơi tản cư trở về, gia đình ông Trịnh Văn Bô không còn một căn nhà nào để ở, cho dù trước đó, ông sở hữu biệt thự nổi tiếng 48 Hàng Ngang và nhiều dinh thự khác như 34 Hoàng Diệu, 24 Nguyễn Gia Thiều, 56-58 Tràng Tiền… Ông Trịnh Văn Bô (1914-1988) là một doanh nhân Việt Nam nổi tiếng giữa thế kỷ 20. Cha ông, ông Trịnh Văn Đường và cha vợ ông, ông Hoàng Đạo Phương, đều là những nhà nho cùng thời với cụ Lương Văn Can, từng đóng góp rất nhiều cho phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục.
 
Ông Tr
ịnh Văn Bô cùng vợ là bà Hoàng Thị Minh Hồ, trong 10 năm, kinh doanh thành công, đưa tài sản của hãng tơ lụa Phúc Lợi tăng lên 100 lần so với ngày thừa kế hãng này từ cha mình. Tơ lụa do Phúc Lợi sản xuất được bán sang Lào, Campuchia, Thái Lan, được các thương nhân Pháp, Anh, Thuỵ Sĩ, Thuỵ Điển, Ấn Độ, Trung Quốc và Nhật Bản tìm kiếm.
 
T
ừ năm 1944, gia đình ông nằm trong sự chú ý của những người cộng sản. Ngày 14-11-1944, hai vợ chồng ông bà cùng người con trai cả đồng ý tham gia Việt Minh. Vài tháng sau, ông bà đã mang một vạn đồng Đông Dương ra ủng hộ Mặt trận Việt Minh và từ đó, gia đình ông Trịnh Văn Bô trở thành một nguồn cung cấp tài chánh to lớn cho những người cộng sản. Đến trước Cách mạng tháng Tám, gia đình ông đã ủng hộ Việt Minh 8,5 vạn đồng Đông Dương, tương đương 212,5 cây vàng. Khi những người cộng sản cướp chính quyền, ông bà Trịnh Văn Bô được đưa vào Ban vận động Quỹ Độc lập(298).
 
Ngày 24-8-1945, khi Chính ph
ủ lâm thời về Hà Nội, Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ, Hoàng Quốc Việt, Hoàng Tùng đều đã ở hoặc qua lại ngôi nhà 48 Hàng Ngang. Ba đêm đầu Hồ Chí Minh ngủ trên giường của ông bà Trịnh Văn Bô, sau đó, ông xuống tầng hai, ngủ trên chiếc giường bạt còn các nhà lãnh đạo khác thì kê ghế da hoặc rải chiếu ngủ. Ở tầng trệt, cửa hàng vẫn hoạt động bình thường, ngay cả bảo vệ của Hồ Chí Minh cũng không xuống nhà để tránh gây chú ý. Mọi việc ăn uống đều do bà Trịnh Văn Bô lo, thực khách hàng ngày ngồi kín chiếc bàn ăn 12 chỗ.
 
Trong su
ốt từ 24-8 cho đến ngày 2-9-1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh hiếm khi ra khỏi nhà 48 Hàng Ngang. Mỗi buổi sáng, cứ sau khi ông tập thể dục xong, bà Trịnh Văn Bô lại đích thân mang thức ăn sáng lên. Bà nhớ, có lần Hồ Chí Minh đã giữ bà lại và hỏi: “Cô bao nhiêu tuổi mà có được gia tài lớn thế này?”

Năm
ấy bà 31 tuổi, dù có 4 đứa con nhưng vẫn còn xinh đẹp. Hồ Chí Minh ở lại đây cho đến ngày 27-9-1945. Mỗi khi ra khỏi nhà, Hồ Chí Minh thường xuống tầng dưới vấn an bà mẹ ông Trịnh Văn Bô và gọi bà là mẹ nuôi. Ở 48 Hàng Ngang, Hồ Chí Minh đã ngồi viết bản Tuyên Ngôn Độc Lập và tiếp các sĩ quan OSS (tiền thân của CIA) như Archimedes Patti và Allison Thomas.

Qu
ần áo mà các lãnh đạo Việt Minh bận trong ngày lễ Độc lập, đều do gia đình ông bà cung cấp. Các ông Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp thì mặc đồ của ông Trịnh Văn Bô còn áo của Chủ tịch Hồ Chí Minh thì may bằng vải Phúc Lợi.

Khi Pháp tái chi
ếm Đông Dương, ông Trịnh Văn Bô theo Chính phủ Kháng chiến lên Việt Bắc còn vợ ông thì mang 5 người con, trong đó có một đứa con nhỏ, cùng với mẹ chồng lên “vùng tự do” Phú Thọ. Những năm ở đó, từ một bậc trâm anh, thế phiệt, bà đã phải cuốc đất trồng khoai và buôn bán để nuôi con.

Năm 1955, gia đình ông Tr
ịnh Văn Bô trở về Hà Nội. Ông bà tiếp tục xoay xở và bắt đầu phải bán dần đồ đạc cũ để nuôi sống gia đình. Lúc này, toàn bộ biệt thự, cửa hàng đều đã bị các cơ quan nhà nước sử dụng hoặc chia cho cán bộ nhân viên ở. Lúc đầu, Nhà nước “mượn” sau tự làm giấy nói gia đình xin hiến, nhưng cụ bà Trịnh Văn Bô bảo: “Tôi không ký”.
 
Năm 1958, Ch
ủ tịch Hồ Chí Minh cho tiến hành “cải tạo xã hội chủ nghĩa” trên toàn miền Bắc, các nhà tư sản Việt Nam buộc phải giao nhà máy, cơ sở kinh doanh cho Nhà nước. Bà Trịnh Văn Bô lại được kêu gọi “làm gương”, đưa xưởng dệt của bà vào “công tư hợp doanh”. Bà Bô cùng các nhà tư sản được cho học tập để nhận rõ, tài sản mà họ có được là do bóc lột, bây giờ Chính phủ nhân đạo cho làm phó giám đốc trong các nhà máy, xí nghiệp của mình. Không chỉ riêng bà Bô, các nhà tư sản từng nuôi Việt Minh như chủ hãng nước mắm Cát Hải, chủ hãng dệt Cự Doanh cũng chấp nhận hợp doanh và làm phó.
 
Cho dù đ
ược ghi nhận công lao, trong lý lịch các con của ông Trịnh Văn Bô vẫn phải ghi thành phần giai cấp là “tư sản dân tộc”, và rất ít khi hai chữ “dân tộc” được nhắc tới. Con trai ông Trịnh Văn Bô, ông Trịnh Kiến Quốc kể: “Ở trường, các thầy giáo, nhất là giáo viên chính trị, nhìn chị em tôi như những công dân hạng ba. Vào đại học, càng bị kỳ thị vì lượng sinh viên người Hà Nội không còn nhiều.

Trong tr
ường chủ yếu là sinh viên con em cán bộ thuộc thành phần cơ bản từ Nghệ An, Thanh Hoá… những người xếp sinh viên Hải Phòng, Hà Nội vào thứ hạng chót. Chị tôi vào Đại học Bách Khoa, năm 1959, phải đi lao động rèn luyện một năm trên công trường Cổ Ngư, con đường về sau Cụ Hồ đổi thành đường Thanh Niên, và sau đó là lao động trên công trường Hồ Bảy Mẫu”.
 
C
ả gia đình ông Trịnh Văn Bô, sau khi về Hà Nội đã phải ở nhà thuê. Năm 1954, Thiếu tướng Hoàng Văn Thái có làm giấy mượn căn nhà số 34 Hoàng Diệu của ông với thời hạn 2 năm. Nhưng cho đến khi ông Trịnh Văn Bô qua đời, gia đình ông vẫn không đòi lại được.
 
Bánh mì có th
ể biến mất sau khi vào dạ dày; nhưng sự thật thì vẫn trường tồn …nhất là trong các đám mây Internet



Thứ Năm, 26 tháng 12, 2013

NGUYỄN CHÍ THANH

Nguyễn Chí Thanh

 

Hầu hết các nhân chứng khi nhắc đến Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đều nghẹn ngào rơi nước mắt, tiếc thương vị Đại tướng tài ba, có lòng thương người hiếm thấy. 

 Vị tướng có tình thương bao la
Vợ chồng thiếu tướng Đặng Văn Duy và tác giả - Ảnh: Thu Hà
Đại tướng làm “chủ hôn”
Với vợ chồng thiếu tướng Đặng Văn Duy, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh không chỉ là ân nhân mà còn là người tác hợp cho họ nên duyên vợ chồng. Ngày đó, ông Duy được điều về làm thư ký đối ngoại cho Đại tướng Nguyễn Chí Thanh ở cơ quan Tổng cục Chính trị, Bộ tổng tham mưu. Vợ ông Duy, cô Phạm Thị Mỹ, cũng là cán bộ quân y. Hai người làm việc cùng cơ quan Bộ tổng tham mưu và đã có tình ý với nhau. Tuy nhiên, gia đình cô Mỹ lại không ưng ông Duy. Biết vậy, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã đứng ra tác hợp và làm chủ hôn tổ chức lễ cưới cho họ. Quà mừng cưới của Đại tướng là một quả táo và họ đã sống với nhau hạnh phúc đến nay.
Ngoài vợ chồng ông Duy, Đại tướng còn làm chủ hôn cho vợ chồng ông bà Phạm Đức Nhuận và Võ Thị Thể, hai cán bộ đồng hương Thừa Thiên-Huế của Đại tướng. Câu chuyện được trung tướng Lê Tự Đồng kể lại như sau: “Một hôm, tôi đến thăm, hỏi ý kiến về việc ghép đôi cho anh chị Phạm Đức Nhuận và Võ Thị Thể. Nghe vậy, Đại tướng vỗ bàn: “Hay quá! Hai anh chị ấy đẹp đôi quá! Khi nào tổ chức đám cưới thì làm tại nhà mình nhé”. Thế là sau đó, đám cưới của hai người được tổ chức tại nhà Đại tướng và ông cũng chính là người chủ hôn cho đám cưới này”. 
Thấy việc là làm ngay
Thiếu tướng Đặng Văn Duy vẫn còn nhớ như in một lần theo Đại tướng đi công tác, khi đứng chờ tại bến phà, Đại tướng thấy một người lính ngồi ở góc, vẻ mặt rất buồn. Đại tướng hỏi thăm, chiến sĩ đáp: “Mẹ tôi bị ốm, đơn vị cho về phép. Được về kiểu này thà ở lại đơn vị chiến đấu còn vui hơn”. Đại tướng hỏi: “Sao được về phép mà lại không vui?”, người lính trả lời: “Thời gian nghỉ phép ngắn quá, trong khi nhà tôi ở xa, chưa đi vào được đến đó e phải quay ra lại vì hết phép”. Đại tướng bảo: “Đâu, giấy phép của cậu đâu, đưa tớ xem”. Cầm tờ giấy phép của người lính, Đại tướng viết ngay vào: “Cho thêm 5 ngày phép để về quê chăm mẹ ốm”, ký tên Nguyễn Chí Thanh. Người lính lúc này mới biết rằng mình gặp Đại tướng, anh ta mừng đến rơi nước mắt.
Theo thiếu tướng Đặng Văn Duy, điều đặc biệt hơn là sau khi trở lại cơ quan Bộ Tổng tư lệnh, Đại tướng đã triệu tập ngay một hội nghị và cũng từ hội nghị này, số ngày phép của chiến sĩ trong toàn quân đội được tăng thêm thành 15 ngày, thay vì trước đây chỉ 10 ngày. Thiếu tướng Đặng Văn Duy thuật lại, sau khi viết giấy tăng thêm ngày phép cho người lính, Đại tướng còn trăn trở: “Chiến sĩ bộ đội, đi tham gia cách mạng là niềm tự hào của mỗi gia đình, thế nhưng đi chiến đấu xa quê lâu ngày, khi về không có chút tiền để mua quà cho bố, cho mẹ, mua bánh kẹo cho em… là không được”.  Từ câu chuyện này, không chỉ ngày phép được tăng thêm, mỗi chiến sĩ khi đi phép còn được đơn vị cấp thêm tiền để mua quà cho gia đình. 
Cõng lính qua suối
Câu chuyện Đại tướng cõng lính qua suối được nhà thơ Hoàng Cầm (nguyên Đoàn trưởng Đoàn văn công Tổng cục Chính trị) kể lại. Đó là thời gian nhà thơ phụ trách đoàn văn công Việt Bắc đi phục vụ chiến dịch Hoàng Hoa Thám năm 1951. Nhà thơ Hoàng Cầm kể: Hôm ấy, đang đi thì gặp một con suối to. Khi chuẩn bị qua suối thì gặp một anh cán bộ chỉ huy đi đôi giày “ghệt” ống ngắn trông dáng rất oách. Thấy con suối có dòng nước chảy mạnh, lòng suối nhiều tảng đá to nhỏ và trơn, anh ta bèn quay mặt sang hai bên, nói với giọng vừa hách vừa gần gũi: “Cậu nào cõng tớ qua suối một tí”. Trong lúc mọi người chưa kịp phản ứng gì thì Đại tướng đã xông ngay lên mấy bước, nói gọn ghẽ: “Báo cáo! Để em cõng ạ”.
Được vài bước, anh ta hỏi chuyện: “Thế cậu ở C nào?”. Đại tướng đáp: “Báo cáo anh, em ở Tổng cục ạ”. Anh cán bộ có vẻ sửng sốt và bối rối, giọng dịu lại: “Chết! Dạ, thế anh ở Tổng cục nào? Bên Tham mưu hay bên Hậu cần ạ, hay bên Chính trị?”. “Dạ báo cáo anh, em ở Tổng cục Chính trị ạ”, Đại tướng đáp. Anh cán bộ ngồi trên lưng càng tỏ ra luống cuống, cố gặng hỏi: “Dạ… anh ở phòng nào bên Tổng cục ạ?”. “Dạ báo cáo anh, em chả ở phòng nào cả, em ở tất cả các phòng”, Đại tướng vẫn bình thản. Lúc này, anh cán bộ mới hoảng hốt: “Ấy… dạ… thưa thế tên anh là gì ạ?”. Đại tướng nhỏ nhẹ nói: “Dạ, báo cáo anh, em là Nguyễn Chí Thanh”. Anh cán bộ ngồi trên lưng Đại tướng giật bắn người, giọng run như chiếc lá: “Úi giời ui! Em lạy anh! Anh tha cho em ạ. Anh cho em xuống ạ”. Nói rồi anh ta ngồi trên lưng Đại tướng bắt đầu quẫy mạnh nhưng Đại tướng lại càng vít chặt hai cái mông khá to của anh ta. “Thì lính tráng với nhau cõng nhau có gì đâu mà lo. Cứ ngồi yên, chỗ này sâu đây, trơn lắm!”, Đại tướng cứng rắn giọng.
Khi sang bờ suối bên kia, anh cán bộ quỳ mọp xuống đất: “Dạ! Anh tha tội cho em, em không biết anh là…”. Đại tướng vẫn tươi cười, vỗ vai anh chỉ huy, nhấc anh ta đứng lên: “Tớ nhắc lại nhé. Cùng là lính với nhau cả. Cậu đừng băn khoăn gì nhá. Này tớ hỏi cậu, chức vụ gì, tiểu đoàn nào, trung đoàn nào?”. Anh chỉ huy lắp bắp trả lời... và sau đó không hề bị phê bình, kỷ luật gì, nhưng câu chuyện đã lan truyền nhanh như một giai thoại, trở thành bài học cho chiến sĩ trong toàn quân.
Bùi Ngọc Long

“Kinh tế Việt Nam đã tới lúc phải đào củ mài để ăn”




Năm tới, kinh tế Việt Nam khó có thể khá hơn 


HÀ NỘI (NV) .-  Theo Cục Quản lý Đăng ký kinh doanh thuộc Bộ Kế hoạch Đầu tư VN, trong năm 2013, có thêm 60,737 doanh nghiệp tại Việt Nam hoặc giải thể, hoặc ngừng hoạt động.





Cơ quan này cho biết, nguyên nhân dẫn tới thực trạng vừa kể là vì sản xuất thua lỗ, năng lực điều hành hạn chế, thiếu vốn, không tìm được thị trường. Nếu so với năm ngoái, năm nay, số doanh nghiệp phải giải thể, hoặc ngừng hoạt động tại Việt Nam tăng thêm khoảng 12%.
Theo nhiều chuyên gia kinh tế và một số viên chức trong guồng máy cầm quyền, viễn cảnh kinh tế Việt Nam trong năm tới vẫn hết sức ảm đạm.
Tại cuộc gặp các thành viên của báo Đầu tư, ông Bùi Quang Vinh, Bộ trưởng Kế hoạch Đầu tư của Việt Nam, vừa xác nhận, năm 2013 đã trôi qua trong rất nhiều khó khăn, số lượng doanh nghiệp giải thể, ngừng hoạt động, phá sản vẫn liên tục tăng. Trong đó, có không ít doanh nghiệp lớn. Ngoài những tác động do kinh tế thế giới suy thoái, tự thân kinh tế Việt Nam cũng có nhiều vấn đề.
Tháng trước, ông Vinh từng cảnh báo rằng: “Kinh tế Việt Nam đã tới lúc phải đào củ mài để ăn” khi thảo luận với Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Lai Châu.
Phát biểu của ông Vinh, người vừa có tư cách thành viên chính phủ, vừa là thành viên trong Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Lai Châu, được ghi lại và đưa lên Internet, cho thấy kinh tế Việt Nam hết sức bi đát. Mâu thuẫn giữa một bên cho rằng phải cải tổ thể chế chính trị để tồn tại với bên còn lại, muốn giữ nguyên đang càng lúc càng gay gắt. Sự giằng co giữa hai khuynh hướng đã đấy kinh tế - xã hội Việt Nam tới đường cùng và rất khó có lối thoát.
Trong phát biểu vừa kể, ông Vinh cảnh báo các đồng liêu về khả năng đầu tư cho phát triển của năm 2014. Giới lãnh đạo đảng, quốc hội, chính phủ đã “nhất trí chi cho đầu tư phát triển là 163 ngàn tỷ”. Bộ trưởng Kế hoạch – Đầu tư nhận định, con số này tuy quá thấp so với nhu cầu đầu tư để phát triển, nhưng nhà cầm quyền trung ương sẽ không kiếm đủ tiền để chi. Trong 163 ngàn tỷ dự kiến sẽ chi, có 30 ngàn tỷ dự kiến sẽ thu từ đất nhưng thị trường bất động sản vẫn đóng băng, thành ra dự thu như thế là ảo tưởng.
Ông Vinh nhấn mạnh “đất nước này vỡ nợ là do xây dựng cơ bản tràn lan”. Lãnh đạo chính quyền các địa phương mạnh tay phê duyệt các dự án hạ tầng, khuyến dụ các doanh nghiệp bỏ vốn, mượn vốn để thực hiện những dự án đó, cuối cùng chính quyền trung ương không có khả năng hoàn trả. Hàng loạt doanh nghiệp là chủ đầu tư, hàng loạt ngân hàng cho vay rơi vào tình trạng phá sản, chính quyền vừa không thu được thuế, vừa “giật gấu vá vai” để trả nợ.
Thực trạng vừa kể cũng là lý do khiến chi cho đầu tư phát triển giảm chưa từng thấy trong lịch sử. Nhiều công trình dở dang, trong khi không đầu tư cho phát triển thì không thể phát triển và chính nhà nước XHCNVN cũng đang loanh quanh trong vòng luẩn quẩn do chính mình tạo ra.
Cho dù giới lãnh đạo đảng, quốc hội VN “nhất trí” với mức phát triển cho 2014 là 5,8% GDP – thấp chưa từng có trong lịch sử nhưng ông Vinh khẳng định, vẫn không thể nào đạt được. Viên bộ trưởng này bảo rằng, bộ của ông ta đã tính toán là muốn đạt mức đó thì “tổng vốn đầu tư toàn xã hội phải đạt từ 30% trở lên, chi cho đầu tư phát triển tối thiểu phải là 234 ngàn tỷ”. Tuy nhiên ngân sách đang trong tình trạng thất thu chưa từng thấy trong lịch sử nên không thể có tiền chi tới mức đã tính toán.
Việc cắt giảm chi cho đầu tư phát triển xuống còn 163 ngàn tỉ chắc chắn sẽ khiến mức phát triển cho 2014 xuống còn 5% GDP. Ông Vinh nói thêm là ông ta đã cảnh báo Thủ tướng nhưng ông Nguyễn Tấn Dũng không dám can gián vì Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã “quyết định như thế”.
Viên Bộ trưởng Kế hoạch – Đầu tư của chính phủ Việt Nam chỉ trích gay gắt cái gọi là “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Trong khi Hội đồng Lý luận Trung ương vẫn đang loay hoay tìm cách định nghĩa cho khái niệm chẳng giống ai và mô hình chưa biết sẽ như thế nào thì “định hướng xã hội chủ nghĩa” tạo ra vô số hệ quả tai hại, khó có khả năng cứu vãn. Ông Vinh tâm tình rằng, ông đã nhấn mạnh là Việt Nam phải đổi mới thật sự, không như thế là lụn bại. Ông ta đã có báo cáo chi tiết về kế hoạch đổi mới trình chính phủ nhưng kế hoạch này bị gọt dũa dần dần, ra Quốc hội “chỉ còn một tí!”.
Theo ông Vinh, nguồn thu chính của Việt Nam trong những năm vừa qua là khai thác tài nguyên đem đi bán và “năm năm nữa, dầu hết sẽ không còn gì để thu, khoáng sản thô cũng đã bị đào bới mang bán hết rồi”. Tài nguyên lớn nhất của Việt Nam là con người nhưng không biết sử dụng, có muốn cũng không thể sử dụng. Bộ máy công quyền không thể tuyển mộ người giỏi mà kẻ dốt thì không thể đề ra chính sách tốt.
Hồi tháng 11, ông Vinh cảnh báo: “Nếu không đổi mới chúng ta sẽ chết. Chúng ta sẽ chỉ còn từ củ mài trở xuống để ăn thôi”.
Mới đây, ông Vinh tiếp tục nhắc lại, tương lai của kinh tế Việt Nam phụ thuộc vào chính Việt Nam. Nếu không đủ quyết tâm để cải cách và cải cách không đúng chỗ, kinh tế Việt Nam trong các năm 2015, 2016 sẽ còn khó khăn hơn nữa. Cải cách, theo ông Vinh là phải minh bạch và tôn trọng quy luật kinh tế thị trường. (G.Đ)